Chữ Ký Số FPT – Hotline: 0932 780 176

Hỗ trợ

Nâng cấp phần mềm hỗ trợ kê khai HTKK 3.4.6


Thông báo về việc Nâng cấp ứng dụng Hỗ trợ kê khai tờ khai mã vạch (HTKK) phiên bản 3.4.6

TỔNG CỤC THUẾ THÔNG BÁO

V/v: Nâng cấp ứng dụng Hỗ trợ kê khai (HTKK) phiên bản 3.4.6, ứng dụng Khai thuế qua mạng (iHTKK) phiên bản 3.4.7, ứng dụng Hỗ trợ đọc, xác minh tờ khai, thông báo thuế định dạng XML (iTaxViewer) phiên bản 1.3.1 đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ theo Thông tư số 36/2016/TT-BTC ngày 26/02/2016, Thông tư số 61/2016/TT-BTC ngày 11/04/2016 của Bộ Tài chính và Nghị định số 139/2016/NĐ-CP ngày 04/10/2016 của Chính phủ.

Đáp ứng yêu cầu nghiệp vụ theo Thông tư số 36/2016/TT-BTC ngày 26/02/2016 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện quy định về thuế đối với các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí theo quy định của Luật Dầu khí, Thông tư số 61/2016/TT-BTC ngày 11/04/2016 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thu, nộp và quản lý khoản lợi nhuận, cổ tức được chia cho phần vốn nhà nước đầu tư tại doanh nghiệp và Nghị định số 139/2016/Đ-CP ngày 04/10/2016 của Chính phủ quy định về lệ phí môn bài, Tổng cục Thuế đã hoàn thành nâng cấp các ứng dụng hỗ trợ kê khai thuế (HTKK) phiên bản 3.4.6, ứng dụng Khai thuế qua mạng (iHTKK) phiên bản 3.4.7, ứng dụng Hỗ trợ đọc, xác minh tờ khai, thông báo thuế định dạng XML (iTaxViewer) phiên bản 1.3.1, cụ thể như sau:

1. Nội dung nâng cấp ứng dụng HTKK, iHTKK:

– Nâng cấp bổ sung các chức năng kê khai tờ khai dầu khí ban hành kèm theo Thông tư số 36/2016/TT-BTC, bao gồm:

+ Tờ khai quyết toán thuế tài nguyên đối với dầu khí (mẫu số 02/TAIN-DK);

+ Tờ khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dầu khí (mẫu số 02/TNDN-DK);

+ Tờ khai thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ chuyển nhượng quyền lợi tham gia hợp đồng dầu khí (mẫu số 03/TNDN-DK);

+ Báo cáo dự kiến sản lượng dầu khí khai thác và tỷ lệ tạm nộp thuế (mẫu số 01/BCTL-DK).

– Nâng cấp bổ sung các chức năng kê khai tờ khai cổ tức, lợi nhuận được chia theo Thông tư số 61/2016/TT-BTC, bao gồm:

+ Tờ khai cổ tức, lợi nhuận được chia cho phần vốn nhà nước tại công ty cổ phần, công ty TNHH hai thành viên trở lên có vốn nhà nước do Bộ, ngành, địa phương đại diện chủ sở hữu (mẫu số 01/CTLNDC);

+ Tờ khai quyết toán lợi nhuận sau thuế còn lại sau khi trích lập các quỹ phải nộp ngân sách nhà nước của doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ (mẫu số 01/QT-LNCL).
– Nâng cấp bổ sung các chức năng kê khai tờ khai lệ phí môn bài (mẫu số 01/MBAI) ban hành theo Nghị định số 139/2016/NĐ-CP.

– Một số nội dung khác:

+ Nâng cấp chức năng kê khai tờ khai quyết toán thuế TNCN dành cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công cho cá nhân (mẫu số 05/QTT-TNCN): Bổ sung thêm cột “Cá nhân nước ngoài ủy quyết quyết toán dưới 12 tháng/năm” trên phụ lục 05-1/BK-QTT-TNCN đính kèm tờ khai để hỗ trợ NNT kê khai trong trường hợp cá nhân là người nước ngoài không làm việc đủ 12 tháng trong năm nhưng vẫn đủ điều kiện ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức trả thu nhập.

+ Nâng cấp chức năng kê khai tờ khai thuế bảo vệ môi trường (mẫu số 01/TBVMT): Đối với mặt hàng xăng E5, ứng dụng hỗ trợ tính Thuế bảo vệ môi trường phải nộp trong kỳ – chỉ tiêu [06], cho phép sửa.

2. Nâng cấp các chức năng trên ứng dụng iTaxViewer:

– Nâng cấp ứng dụng iTaxViewer phiên bản 1.3.1 đáp ứng các nội dung nâng cấp của ứng dụng iHTKK phiên bản 3.4.7
Bắt đầu từ ngày 04/8/2017, khi kê khai các tờ khai có liên quan đến nội dung nâng cấp nêu trên, tổ chức cá nhân nộp thuế sẽ sử dụng các chức năng kê khai tại ứng dụng HTKK 3.4.6, iHTKK 3.4.7 thay cho các phiên bản trước đây.
​ Tổ chức, cá nhân nộp thuế có thể tải bộ cài và tài liệu hướng dẫn sử dụng ứng dụng tại địa chỉ sau:

+ Ứng dụng HTKK phiên bản 3.4.6: http://www.gdt.gov.vn/wps/portal/home/hotrokekhai

+ Ứng dụng iHTKK phiên bản 3.4.7: Thực hiện kê khai tại http://kekhaithue.gdt.gov.vn
Hoặc liên hệ trực tiếp với cơ quan Thuế địa phương để được cung cấp và hỗ trợ trong quá trình cài đặt, sử dụng.
Mọi phản ánh, góp ý của tổ chức, cá nhân nộp thuế được gửi đến Cục Thuế theo các số điện thoại, hộp thư điện tử hỗ trợ NNT về ứng dụng HTKK, iHTKK, do cơ quan Thuế cung cấp.

Chuyển sang hóa đơn điện tử: Khó ‘có cửa’ cho hóa đơn bất hợp pháp


Nhằm tạo thuận lợi, giảm thời gian, chi phí thực hiện hoá đơn cho doanh nghiệp (DN), người nộp thuế, vừa chống thất thu ngân sách, chống gian lận trong thanh toán từ ngân sách nhà nước (NSNN).

Bộ Tài chính đã xây dựng và đang lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo nghị định về hóa đơn (sửa đổi) trước khi trình Chính phủ xem xét ban hành, thay thế Nghị định số 51/2010/NĐ-CP (NĐ 51) và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP (NĐ 04).

“Đột phá” từ hóa đơn giấy sang hóa đơn điện tử

Sau gần 7 năm thực hiện NĐ 51 về hoá đơn và các văn bản hướng dẫn, đã chuyển đổi phương thức phát hành, quản lý hóa đơn của DN từ cơ chế “mua hóa đơn của cơ quan thuế” sang cơ chế “DN tự đặt in, tự in hóa đơn” để sử dụng; chuyển đổi phương thức quản lý hóa đơn (giấy) của cơ quan thuế bằng việc phân quyền cho cục thuế các địa phương được đặt in hóa đơn bán cho các tổ chức, cá nhân không phải là DN nhưng có hoạt động kinh doanh. “Quy định tại NĐ 51 cũng tạo ra sự đổi mới trong việc trao quyền tự chủ về hóa đơn cho các DN, góp phần cải cách thủ tục hành chính, nâng cao trách nhiệm của cơ quan thuế địa phương trong công tác quản lý hóa đơn”, Bộ Tài chính nhấn mạnh.

Việc bổ sung hình thức hóa đơn điện tử (HĐĐT) như quy định tại NĐ 51 đã có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở pháp lý để các DN hiện đại hóa công tác quản trị DN phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại. Đồng thời, hạn chế được một phần tình trạng hộ kinh doanh, DN đặt in, tự in hóa đơn để xuất hóa đơn khống, mua bán lòng vòng, sử dụng bất hợp pháp, gây thất thu NSNN, gian lận thương mại, ảnh hưởng đến nền kinh tế.

Đáng chú ý, tổng kết thực tế từ khi triển khai áp dụng HĐĐT do các DN lựa chọn theo Thông tư 32/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính đến nay cho thấy, áp dụng HĐĐT được các DN đánh giá là mang lại kết quả tốt, được khách hàng chấp thuận; mang lại hiệu quả thiết thực về thời gian và tiết kiệm chi phí cho DN; góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, chất lượng dịch vụ và tăng khả năng cạnh tranh của DN.

Sử dụng HĐĐT cũng giúp khách hàng thuận tiện trong thanh toán, tránh rủi ro mất hóa đơn và tiết kiệm được chi phí do không phải in ra giấy. Trong đó, việc thí điểm sử dụng HĐĐT có mã xác thực của cơ quan thuế vừa góp phần giảm thời gian, chi phí về hóa đơn cho DN, vừa góp phần hạn chế các hành vi gian lận về hóa đơn.

Điều đó được minh chứng bằng kết quả tổng kết cho thấy, số lượng DN sử dụng hóa đơn tự in, hóa đơn đặt in mang tính ổn định qua các năm, nhưng số lượng DN sử dụng HĐĐT tăng dần qua các năm. Cụ thể: Năm 2011 mới chỉ có 30 DN sử dụng HĐĐT thì đến năm 2015, con số này đã là 331 và năm 2016 là 656 DN. Theo đó, số lượng HĐĐT DN sử dụng cũng tăng qua các năm; nếu năm 2011 số lượng HĐĐT sử dụng mới chỉ là 9.014 hóa đơn thì năm 2016, đã tăng lên hơn 277 triệu hóa đơn.

Tiến tới áp dụng rộng rãi HĐĐT

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, qua thực tế triển khai cho thấy NĐ 51, 04 và các văn bản hướng dẫn đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Đáng chú ý trong số đó là quy định về in, phát hành, sử dụng hóa đơn của NĐ 51 áp dụng đối với hóa đơn giấy đã không còn phù hợp với bối cảnh triển khai thủ tục hành chính điện tử theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP và Chỉ thị số 26/CT-TTg.

NĐ 51 cũng chưa tạo điều kiện pháp lý đầy đủ cho việc triển khai rộng rãi, phổ biến áp dụng HĐĐT trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, cách mạng công nghiệp lần thứ 4, thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế đã có sự chuyển biến rõ rệt so với các năm trước.

Với việc sử dụng hóa đơn giấy phổ biến (đặt in, tự in hóa đơn giấy, không có sự kết nối dữ liệu về hóa đơn với cơ quan thuế), một số đối tượng lợi dụng sự thông thoáng để thành lập nhiều DN, hoặc mua lại DN, thực tế không kinh doanh nhưng được sử dụng hóa đơn, xuất hóa đơn khống, sử dụng hóa đơn lòng vòng để khấu trừ, hoàn khống thuế giá trị gia tăng hoặc rút tiền thanh toán từ NSNN, hoặc không kê khai nộp thuế để trốn thuế… Để khắc phục những tồn tại, hạn chế về quản lý, sử dụng hóa đơn như hiện nay, theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính cho biết đã dự thảo nghị định về hóa đơn (sửa đổi), thay thế hai nghị định trên.

Dự thảo nghị định mới, ngoài việc khắc phục những bất cập tại NĐ 51, còn đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính, cải cách thủ tục quản lý thuế, phòng chống việc sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc sử dụng bất hợp pháp hóa đơn để gian lận, trốn thuế… Quan trọng hơn, dự thảo nghị định mới về hóa đơn tạo hành lang pháp lý cho việc áp dụng rộng rãi phổ biến HĐĐT, đáp ứng triển khai thủ tục hành chính điện tử theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP và Chỉ thị số 26/CT-TTg của Chính phủ, với nội dung cơ bản thực hiện hoá đơn, chứng từ điện tử trong năm 2018 đối với toàn nền kinh tế.

Hóa đơn điện tử của doanh nghiệp phải đảm bảo toàn vẹn thông tin


Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong đó có đề xuất nhiều nội dung về hóa đơn điện tử của doanh nghiệp.

Dự thảo nêu rõ, doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh đã áp dụng Hóa đơn điện tử của doanh nghiệp trước ngày 01/01/2018 theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tiếp tục áp dụng hóa đơn điện tử của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh đang thực hiện giao dịch điện tử trong khai thuế với cơ quan thuế, hoặc là tổ chức kinh tế có sử dụng giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng có: chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật; phần mềm bán hàng hoá, dịch vụ kết nối với phần mềm kế toán, đảm bảo dữ liệu của hoá đơn điện tử bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tự động chuyển vào phần mềm (hoặc cơ sở dữ liệu) kế toán tại thời điểm lập hoá đơn thì sử dụng hóa đơn điện tử của doanh nghiệp trong hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh có mã số thuế đang sử dụng hóa đơn giấy in từ hệ thống máy tính trước ngày 01/01/2018 nếu có đủ điều kiện quy định thì sử dụng hóa đơn điện tử của doanh nghiệp từ ngày 01/01/2018 trong hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Dự thảo cũng quy định rõ về điều kiện đối với hóa đơn điện tử của doanh nghiệp. Theo đó, hóa đơn điện tử của doanh nghiệp phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau: Có sự đảm bảo đủ tin cậy về tính toàn vẹn của thông tin chứa trong hóa đơn điện tử từ khi thông tin được tạo ra ở dạng cuối cùng là hóa đơn điện tử.

Tiêu chí đánh giá tính toàn vẹn là thông tin còn đầy đủ và chưa bị thay đổi, ngoài những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình trao đổi, lưu trữ hoặc hiển thị hóa đơn điện tử.

Đồng thời thông tin chứa trong hóa đơn điện tử có thể truy cập, sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết.

Người bán hàng hóa được chuyển đổi hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy để chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hoá hữu hình trong quá trình lưu thông và chỉ được chuyển đổi 01 lần. Hóa đơn điện tử chuyển đổi sang hóa đơn giấy để chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa phải đáp ứng các quy định và phải có chữ ký người đại diện theo pháp luật của người bán, dấu của người bán.

Người mua, người bán được chuyển đổi hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy để phục vụ việc lưu trữ chứng từ kế toán theo quy định của Luật Kế toán. Hóa đơn điện tử chuyển đổi sang hóa đơn giấy phục vụ lưu trữ chứng từ kế toán phải đáp ứng các quy định cụ thể.

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý của nhân dân đối với dự thảo này tại Cổng Thông tin điện tử của Bộ.

Vướng mắc khi thực hiện quyết toán thuế và hoàn thuế TNCN


Ngày 04/07/2017, Tổng cục Thuế ban hành Công văn số 2942/TCT-TNCN v/v thực hiện quyết toán thuế và hoàn thuế TNCN để trả lời công văn số 2051/CT-THNVDT ngày 09/06/2017 của Cục Thuế TP. Đà Nẵng về việc đề nghị hướng dẫn thực hiện quyết toán thuế và hoàn thuế thu nhập cá nhân. Theo đó, Tổng cục Thuế có ý kiến như sau:

-Tại điểm c, khoản 2, Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn:

“2. Thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập người lao động nhận được từ người sử dụng lao động, bao gồm:

c) Tiền thù lao nhận được dưới các hình thức như: tiền hoa hồng đại lý bán hàng hoá, tiền hoa hồng môi giới; tiền tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học, kỹ thuật; tiền tham gia các dự án, đề án; tiền nhuận bút theo quy định của pháp luật về chế độ nhuận bút; tiền tham gia các hoạt động giảng dạy; tiền tham gia biểu diễn văn hoá, nghệ thuật, thể dục, thể thao; tiền dịch vụ quảng cáo; tiền dịch vụ khác, thù lao khác.”

– Tại điểm i, khoản 1, Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn:

“i) Khấu trừ thuế đối với một số trường hợp khác

Các tổ chức, cá nhân trả tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc ký hợp đồng lao động dưới ba (03) tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.”

– Tại điểm a.3, khoản 1, Điều 21 Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn:

“a.3) Khai quyết toán thuế

Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công có trách nhiệm khai quyết toán thuế nếu có số thuế phải nộp thêm hoặc có số thuế nộp thừa đề nghị hoàn hoặc bù trừ vào kỳ khai thuế tiếp theo trừ các trường hợp sau:

– Cá nhân có số thuế phải nộp nhỏ hơn số thuế đã tạm nộp mà không có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ thuế vào kỳ sau…”

Căn cứ các hướng dẫn nêu trên, trường hợp Viettel Đà Nẵng – Chi nhánh Tập đoàn Viễn thông Quân đội ký Biên bản thoả thuận hợp tác với các cá nhân để thực hiện việc bán thẻ, sim và cung cấp một số dịch vụ khác cho Viettel Đà Nẵng – Chi nhánh Tập đoàn Viễn thông Quân đội, cá nhân được hưởng chiết khấu, phí bán hàng cho việc bán sản phẩm, dịch vụ nêu trên từ Viettel Đà Nẵng – Chi nhánh Tập đoàn Viễn thông Quân đội thì khoản thu nhập cá nhân nhận được là thu nhập từ tiền lương, tiền công. Viettel Đà Nẵng – Chi nhánh Tập đoàn Viễn thông Quân đội khi trả thu nhập từ 2.000.000 đồng/lần trở lên phải khấu trừ thuế theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

Cần Thơ: 90 hồ sơ được hoàn thuế trên 178 tỷ đồng


Báo cáo của Cục Thuế TP.Cần Thơ cho thấy, cơ quan này đã tiếp nhận 106 hồ sơ đề nghị hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT), với số tiền đề nghị hoàn là 233.885 triệu đồng. Tuy nhiên, đến nay cơ quan thuế mới giải quyết hoàn cho 90 hồ sơ, với số tiền thuế được hoàn trên 178 tỷ đồng.

Bộ phận "một cửa" Cục Thuế TP.Cần Thơ

Bộ phận “một cửa” Cục Thuế TP.Cần Thơ

Theo ông Võ Kim Hoàng – Cục trưởng Cục Thuế TP.Cần Thơ cho biết, những hồ sơ không được giải quyết hoàn thuế chủ yếu là không đủ điều kiện hoàn theo quy định, do đó cơ quan thuế đã không giải quyết hoàn.

“Trong số 106 hồ sơ đề nghị hoàn, có 12 hồ sơ không thuộc trường hợp được hoàn, nên cơ quan thuế đã không giải quyết; 4 hồ sơ do thiếu chứng từ nên đề nghị bổ sung. Do đó, cơ quan thuế đã giải quyết hoàn cho 90 hồ sơ, với số tiền thuế được hoàn hơn 178 tỷ đồng”, ông Hoàng thông tin.

Cũng theo ông Hoàng, hiện nay Cục Thuế TP.Cần Thơ đã áp dụng hoàn thuế điện tử đối với trường hợp xuất khẩu và dự án đầu tư. “Hình thức hoàn thuế điện tử mang lại rất nhiều tiện ích cho người nộp thuế và cơ quan thuế. Người nộp thuế không phải đến trực tiếp cơ quan thuế để gửi giấy đề nghị hoàn như trước đây”, ông Hoàng cho biết.

Việc xử lý hồ sơ hoàn thuế qua cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế cũng khá nhịp nhàng. Những hồ sơ đề nghị hoàn khi gửi qua cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế đã được hỗ trợ kiểm tra các quy tắc nghiệp vụ về thông tin trên giấy đề nghị hoàn trước khi người nộp thuế gửi giấy đề nghị hoàn đến cơ quan thuế. Cơ quan thuế tiếp nhận và trả kết quả hoàn thuế được nhanh chóng, kịp thời, thể hiện tính chuyên nghiệp, hiện đại.

Để giải quyết hồ sơ hoàn thuế một cách nhanh chóng, kịp thời, Cục Thuế TP.Cần Thơ đã phối hợp tốt với các cơ quan hải quan, công an, kho bạc nhà nước trong việc thực hiện và triển khai thực hiện chính sách thuế GTGT, quản lý thuế liên quan đến hoàn thuế GTGT.

Cơ quan thuế đã phối hợp cơ quan hải quan trong việc đấu tranh, ngăn chặn gian lận hoàn thuế GTGT đối với hàng xuất khẩu, thông qua việc kiểm tra đối chiếu hồ sơ kê khai hoàn thuế của doanh nghiệp với thông tin do hải quan cung cấp về tờ khai xuất khẩu đã đề nghị “hủy”; thông tin nợ thuế nhập khẩu. Thực hiện phối hợp với kho bạc nhà nước trong việc kiểm soát chi hoàn thuế đúng quy định…

“Nhìn chung, với sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, sự chỉ đạo sát sao của Thành ủy, UBND thành phố, sự phối hợp đồng bộ của các ngành và sự nỗ lực, cố gắng của cán bộ công chức Cục Thuế TP.Cần Thơ, công tác hoàn thuế đã có sự đổi mới, mang lại sự thuận lợi cho người nộp thuế”, ông Hoàng cho biết./.

Nhật Minh

Vướng mắc về chính sách thuế TNCN


Vướng mắc về chính sách thuế TNCN.

Ngày 29/6/2017, Tổng cục Thuế ban hành Công văn số 2903/TCT-TNCN v/v thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng đất nông nghiệp để trả lời vướng mắc công văn số 30966/CT-TTHT ngày 16/5/2017 của Cục Thuế TP Hà Nội phản ánh một số vướng mắc của Công ty TNHH Hoàng Tử về thuế TNCN từ chuyển nhượng bất động sản là đất nông nghiệp của các hộ gia đình. Theo đó, Công văn số 2903/TCT-TNCN hướng dẫn trả lời một số nội dung liên quan đến chính sách thuế TNCN, cụ thể như sau:

Cán bộ thuế của Chi cục Thuế Kim Bảng (Hà Nam) kiểm tra hồ sơ thuế của doanh nghiệp.

Cán bộ thuế của Chi cục Thuế Kim Bảng (Hà Nam) kiểm tra hồ sơ thuế của doanh nghiệp.

Tại khoản 5 Điều 2 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật thuế TNCN, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân, Nghị định số 65/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập cá nhân hướng dẫn thu nhập từ chuyển nhượng bất dộng sản: “Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản là khoản thu nhập nhận đựợc từ việc chuyển nhượng bất động sản bao gồm:

Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất…”

Tại khoản 1 Điều 3 Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về khoản thu nhập được miễn thuế:

“…n) Thu nhập từ bồi thường hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, bảo hiểm sức khoẻ; tiền bồi thường tai nạn lao động; tiền bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; các khoản bồi thường Nhà nước và các khoản bồi thường khác theo quy định của pháp luật về bồi thường Nhà nước. Cụ thể như sau:

n.3) Thu nhập từ bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là tiền bồi thường, hỗ trợ do Nhà nước thu hồi đất, kể cả các khoản thu nhập do các tổ chức kinh tế bồi thường, hỗ trợ khi thực hiện thu hồi đất theo quy định.

Căn cứ để xác định thu nhập từ bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc thu hồi đất, bồi thường tái định cư và chứng từ chi tiền bồi thường.”

Tại Khoản 3 Điều 17 Thông tư 92/2015/TT-BTC ngày 15/06/2015 của Bộ Tài chính Sửa đổi, bổ sung Điều 12 Thông tư 111/2013/TT-BTC như sau: “…Thời điểm tính thuế từ chuyển nhượng bất động sản được xác định như sau:

– Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng không có thoả thuận bên mua là người nộp thuế thay cho bên bán thì thời điểm tính thuế là thời điểm hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực theo quy định của pháp luật;

– Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng có thoả thuận bên mua là người nộp thuế thay cho bên bán thì thời điểm tính thuế làm thời điểm là thủ tục đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản.

Trường hợp cá nhân nhận chuyển nhượng nhà ở hình thành trong tương lai, quyền sử dụng đất gắn với công trình xây dựng tương lai là thời điểm cá nhân nộp hồ sơ khai thuế với cơ quan thuế.”

Căn cứ vào quy định trên, trường hợp trên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Công ty với các hộ gia đình thoả thuận trách nhiệm của Công ty (bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất) khai, nộp tất cả các loại thuế, phí, lệ phí và các chi phí phát sinh liên quan đến việc chuyển nhượng. Do đó, khi Công ty TNHH Hoàng Tử làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng bất động sản phải khai , nộp thuế TNCN thay cho hộ gia đình, cá nhân đối với thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản.

Vướng mắc về chính sách thuế


Ngày 29/6/2017, Tổng cục Thuế ban hành Công văn số 2897/TCT-CS v/v chính sách thuế để trả lời vướng mắc công văn số 2946/CT-TTHT ngày 05/4/2017 của Cục Thuế TP Hồ Chí Minh về hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư. Theo đó, Công văn số 2897/TCT-CS hướng dẫn trả lời một số nội dung liên quan đến chính sách hoàn thuế, cụ thể như sau:

Căn cứ Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014;

Tại khoản 3 Điều 1 Luật số 106/2016/QH13 ngày 06/04/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế giá trị gia tăng:

“Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế giá trị gia tăng mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp:

a)Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh không góp đủ số vốn Điều lệ như đã đăng ký; kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có Điều kiện khi chưa đủ các Điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư hoặc không bảo đảm duy trì đủ Điều kiện kinh doanh trong quá trình hoạt động;”

Tại khoản 6 Điều 1 Nghị định số 100/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về hoàn thuế GTGT:

“c)Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế giá trị gia tăng mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp:

-Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện khi chưa đủ các điều kiện kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Luật thuế GTGT đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật quản lý thuế là dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhưng cơ sở kinh doanh chưa được cấp giấy phép kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; chưa có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đầu tư kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; hoặc chưa đáp ứng được điều kiện để thực hiện đầu tư kinh doanh có điều kiện mà không cần phải có xác nhận, chấp thuận dưới hình thức văn bản theo quy định của pháp luật về đầu tư.”

Tại khoản 3 Điều 1 Thông tư số 130/2016/TT-BTC ngày 12/8/2016 của Bộ Tài chính hướng dẫn về hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư:

“3. Hoàn thuế GTGT đối với dự án đầu tư

c) Cơ sở kinh doanh không được hoàn thuế giá trị gia tăng mà được kết chuyển số thuế chưa được khấu trừ của dự án đầu tư theo pháp luật về đầu tư sang kỳ tiếp theo đối với các trường hợp:

c.1) Dự án đầu tư của cơ sở kinh doanh không góp đủ số vốn điều lệ như đã đăng ký theo quy định của pháp luật. Các hồ sơ đề nghị hoàn thuế dự án đầu tư nộp từ ngày 01/7/2017 của cơ sở kinh doanh nhưng tính đến ngày nộp hồ sơ không góp đủ số vốn điều lệ như đăng ký theo quy định của pháp luật thì không được hoàn thuế.”

Căn cứ quy định nêu trên:

Theo trình bày của Cục Thuế TP Hồ Chí Minh thì Công ty cổ phần Đầu tư – Xây dựng Trung Nam được UBND TP Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 7676027456 ngày 19/4/2016 để thực hiện dự án đầu tư: “Giải quyết ngập do triều Khu vực TP.Hồ Chí Minh có xét đến yếu tố Biến đổi khi hậu – Giai đoạn 1”, theo quy định của pháp luật, Công ty phải thành lập doanh nghiệp dự án là Công ty TNHH Trung Nam BT 1547 để thực hiện dự án. Căn cứ theo Hợp đồng số 2607/2016/HĐ-UBND được ký với UBND TP Hồ Chí Minh thì vốn chủ sở hữu (vốn tự có) để thực hiện dự án của Công ty TNHH Trung Nam BT 1547 đựợc góp theo tiến độ thực hiện dự án. Căn cứ theo Điều lệ của Công ty được góp theo tiến độ thực hiện dự án thì đề nghị Cục Thuế TP Hồ Chí Minh phối hợp với Sở Kế hoạch Đầu tư để làm rõ vốn điều lệ được góp phân bổ trong 3 năm theo Hợp đồng BT ký với UBND TP. Hồ Chí Minh và đối chiếu với quy định của Luật doanh nghiệp, quy định về hợp đồng BT để xử lý.

TP. Hồ Chí Minh: 6 tháng hoàn 7.789 tỷ đồng thuế giá trị gia tăng


Tính từ đầu năm đến cuối tháng 6/2017, Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh đã xem xét giải quyết 972 hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng (GTGT), với tổng số tiền hoàn cho người nộp thuế là 7.789 tỷ đồng, tăng 29,59% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tập huấn hoàn thuế GTGT điện tử cho DN tại Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh

Tập huấn hoàn thuế GTGT điện tử cho DN tại Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh

Theo Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2017 của Cục Thuế TP Hồ Chí Minh, tổng số hồ sơ xét hoàn thuế giảm 8,22% so với cùng kỳ năm 2016, đạt 972 hồ sơ, với tổng số tiền đã được đơn vị xem xét giải quyết hoàn cho người nộp thuế là 7.789 tỷ đồng, tăng 29,59% so với cùng kỳ.

Trong đó, số thuế hoàn đối với trường hợp xuất khẩu chiếm 83,15% trên tổng số thuế đã hoàn; số thuế hoàn từ trường hợp đầu tư và mua sắm tài sản cố định chiếm 15,63%; số thuế hoàn từ hoạt động dầu khí chiếm 0,84% và số thuế hoàn từ các trường hợp khác chiếm 0,38% so với tổng số thuế hoàn.

Ngoài ra, Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh cũng hoàn tất thí điểm ứng dụng công nghệ thông tin trong hoàn thuế GTGT cho 89 DN theo danh sách đã đăng ký với Tổng cục Thuế. Từ tháng 5/2017, đơn vị đã triển khai tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết hoàn thuế GTGT bằng phương thức điện tử. Kết quả, đến hết tháng 6/2017 đã nhận thành công 42 hồ sơ, giải quyết hoàn 35 hồ sơ với số tiền hoàn 73,3 tỷ đồng.

Chia sẻ về công tác hoàn thuế GTGT trong thời gian còn lại của năm, ông Lê Duy Minh, Phó Cục trưởng Cục Thuế TP. Hồ Chí Minh cho biết, bên cạnh triển khai một loạt giải pháp nhằm hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ thu ngân sách, đơn vị tiếp tục triển khai mở rộng nộp thuế điện tử theo kế hoạch và theo chỉ đạo của Tổng cục Thuế.

“Cục Thuế cũng sẽ mở rộng thực hiện sử dụng hóa đơn điện tử có mã xác thực, hóa đơn điện tử kết nối thông tin giữa cơ quan thuế với người nộp thuế, nhất là với DN, siêu thị, khách sạn, nhà hàng lớn…; thực hiện kê khai và nộp thuế điện tử đối với trước bạ xe; triển khai hệ thống an ninh mạng kết nối dữ liệu với ngân hàng thương mại để thực hiện thu nộp thuế qua thiết bị điện tử…”, ông Minh chia sẻ thêm.

Được biết, trong 6 tháng đầu năm nay, số DN chính lũy kế (mã 10 số) trên toàn địa bàn TP. Hồ Chí Minh tăng thêm 14.202 DN, trong khi số giảm là 7.106 DN. Tính đến cuối tháng 6/2017, TP. Hồ Chí Minh có 198.696 DN đang hoạt động./.

Đỗ Doãn

Hà Nội: Chống thất thu thuế từ ngăn chặn hóa đơn bất hợp pháp


Ông Nguyễn Thế Mạnh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế, kiêm Cục trưởng Cục Thuế TP.Hà Nội cho biết, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Cục Thuế 6 tháng cuối năm 2017 là quản lý chặt hóa đơn GTGT, không để xảy ra tình trạng sử dụng hóa đơn bất hợp pháp.

Kiểm tra hóa đơn GTGT trước khi bán cho doanh nghiệp

Kiểm tra hóa đơn GTGT trước khi bán cho doanh nghiệp

Trao đổi với phóng viên TBTCVN về những nhiệm vụ chủ yếu trong công tác quản lý thuế 6 tháng cuối năm, ông Mạnh cho biết, một trong những giải pháp hết sức quan trọng mà Cục Thuế TP.Hà Nội đã đề ra, đó là sẽ tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra chống thất thu, chống chuyển giá. Phối hợp, ngăn chặn và kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, đặc biệt là các hành vi mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp.

“Xuất phát từ tình hình thực tế, thời gian qua nhiều đối tượng lợi dụng sự thông thoáng của pháp luật trong việc đăng ký thành lập doanh nghiệp mới, đã thành lập các doanh nghiệp ma để mua bán hóa đơn bất hợp pháp, tới đây chúng tôi sẽ tăng cường thanh tra, kiểm tra, quản lý chặt việc sử dụng hóa đơn nhằm ngăn chặn những hành vi mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp, gây thất thu cho Nhà nước”, ông Mạnh nói.

Cũng theo lãnh đạo Cục Thuế TP.Hà Nội, để phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thu ngân sách năm 2017, trong 6 tháng cuối năm, Cục Thuế tiếp tục tập trung triển khai đồng bộ, có hiệu quả 6 nhiệm vụ trọng tâm, 2 khâu đột phá, 5 nhóm giải pháp công tác thuế đã đề ra, trong đó sẽ thực hiện đầy đủ, kịp thời, hiệu quả các chính sách pháp luật thuế mới, các cơ chế chính sách về cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền – hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp; chủ động tham mưu, kiến nghị cơ chế chính sách thuế phù hợp thực tiễn để cộng đồng doanh nghiệp, người nộp thuế tiếp tục duy trì, ổn định, phát triển sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư, tạo nguồn thu bền vững cho NSNN.

Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, hiện đại hóa ngành thuế; tiếp tục ứng dụng mạnh mẽ CNTT vào tất cả các khâu, các bước công việc trong quá trình quản lý, đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng, tạo điều kiện thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ cho cả người nộp thuế và cơ quan Thuế, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý thuế.

“Ngoài hiện đại hóa công tác quản lý thu, để bộ máy có thể chạy trơn tru thì yếu tố con người cũng hết sức quan trọng. Chúng tôi cũng sẽ chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đảm bảo mỗi cán bộ công chức thuế có đầy đủ phẩm chất, năng lực, làm việc chuyên nghiệp, luôn công tâm, khách quan trong công việc, phục vụ tốt người nộp thuế; đoàn kết, xây dựng cơ quan thuế văn minh – hiện đại”, ông Mạnh cho biết./.

Nhật Minh

Tổng cục Thuế hướng dẫn về việc chứng từ chi đối với các chương trình khuyến mại liên kết


Ngày 29/6/2017, Tổng cục Thuế đã ban hành công văn số 2906/TCT-DNL hướng dẫn Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam về việc chứng từ chi đối với các chương trình khuyến mại liên kết như sau:

Căn cứ Khoản 1 Điều 5 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT;

Căn cứ Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp tại Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi một số điều của các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014, Thông tư số 119/2014/TT-BTC ngày 25/8/2014, Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính;

Trường hợp Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam có các chương trình khuyến mại liên kết giảm giá cho khách hàng thì các chi phí khuyến mại phải có đủ hóa đơn, chứng từ hợp pháp làm cơ sở hạch toán chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp. Về hóa đơn, đề nghị Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam thực hiện theo quy định của pháp luật thuế và pháp luật về hoạt động khuyến mại.

TCT

HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG

0915 412 332 - 0932 780 176

TỔNG ĐÀI: (08) 62 650 641 - HOTLINE: 0915 412 332 - 0932 780 176

Liên hệ

TRUNG TÂM HỖ TRỢ KÊ KHAI THUẾ QUA MẠNG

Liên Hệ: Số 19, Đường C18, Phường 12, Quận Tân Bình, TP HCM
Tổng đài : (08)62 560 641
– Hotline: 0915 412 332 – 0932 780 176

Thẻ

bảng kê hóa đơn chi cục thuế chu ky so chính sách thuế chứng thư số chứng thực chữ ký số chữ ký số chữ ký số fpt cuc thue quang nam các bước nạp thuế điện tử cơ chế một cửa cơ chế một cửa quốc gia cơ quan thuế Cục Thuế Cục Thuế Hà Nội Cục thuế Thành phố Hà Nội Cục Thuế TP. Hà Nội cục thuế tphcm Cục trưởng Cục Thuế doanh nghiệp nợ thuế dịch vụ chứng thực chữ ký số dịch vụ làm thủ tục về thuế dịch vụ nộp thuế điện tử gia hạn nộp thuế giao dich dien tu hoàn thuế GTGT Hoàn thuế TNCN hoàn thuế điện tử huong dan nop thue dien tu huong dan su dung chu ky so hóa đơn điện tử hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế hải quan hải quan điện tử Hệ thống khai thuế qua mạng hệ thống tms hồ sơ hoàn thuế iHTKK ke khai thue khai nộp thuế khai nộp thuế điện tử khai thuế khai thuế qua mạng khai thuế điện tử kê khai thuế qua mạng Luật số 71/2014/QH13 Luật sửa đổi mã số thuế mẫu 06/GTGT Nghị quyết 19/NQ-CP Nghị quyết số 19/NQ-CP Người nộp thuế nộp thuế nộp thuế GTGT nộp thuế điện tử nợ thuế quyết toán thuế quyết toán thuế 2015 quyết toán thuế TNCN quản lý thuế thue tai nguyen thuế giá trị gia tăng Thuế GTGT thuế TNCN thông tư 119 Thông tư số 26/2015/TT-BTC Thông tư số 39/2014/TT-BTC thủ tục về thuế triển khai nộp thuế điện tử tổng cục hải quan tổng cục thuế đăng ký chữ ký số đăng ký nộp thuế điện tử đăng ký thuế đại lý thuế