Chữ Ký Số FPT – Hotline: 0932 780 176

Home » Posts tagged 'thue tai nguyen'

Tag Archives: thue tai nguyen

Đà Nẵng ban hành giá tính thuế tài nguyên năm 2016


Vừa qua, Ủy ban nhân dân tỉnh Đà Nẵng vừa ban hành Bảng giá tính thuế tài nguyên năm 2016 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
da-nang-tinh-gia-thue-tai-nguyen-moi-truong

Theo đó, giá tính thuế tài nguyên đối với khoáng sản kim loại vàng cốm là 679 triệu đồng/kg; nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp là 70.000 đồng/m3; nước thiên nhiên dùng cho sản xuất, kinh doanh sử dụng nước mặt là 4.000 đồng/m3; nước thiên nhiên dùng cho sản xuất, kinh doanh sử dụng nước dưới đất là 5.000 đồng/m3.

Đối với các loại khoáng sản không kim loại, giá tính thuế tài nguyên được tính như sau: đá dăm cấp phối Dmax 2,5 là 136.000 đồng/m3; đá dăm cấp phối Dmax 3,75 là 119.000 đồng/m3; đá 0,5×1 đã qua sàng là 128.000 đồng/m3; đá 0,5×1 chưa qua sàng là 81.000 đồng/m3; đá 1×2 là 213.000 đồng/m3; đá 2×4 là 186.000 đồng/m3; đá 4×6 là 163.000 đồng/m3; đá hộc là 172.000 đồng/m3; bột đá là 65.000 đồng/m3; đá nguyên khai là 88.000 đồng/m3; sỏi, sạn là 150.000 đồng/m3; đất làm gạch là 90.000 đồng/m3; đất san lấp, xây dựng công trình là 30.000 đồng/m3; cát đúc là 68.000 đồng/m3; cát xây, tô là 60.000 đồng/m3; cát làm thủy tinh là 250.000 đồng/m3; cát dùng để san lấp mặt bằng là 30.000 đồng/m3; các tạp chất khác là 45.000 đồng/m3.

Tăng nhiều loại thuế tài nguyên từ 1/7/2016


Ngày 10/12, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã bàn về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 về việc ban hành biểu thuế suất thuế tài nguyên.
thue-tai-nguyen-1

Tại tờ trình, Chính phủ đề nghị điều chỉnh thuế suất đối với đa số các loại khoáng sản, tài nguyên. Theo đó, tăng thuế đối với một số loại khoáng sản kim loại, phi kim loại, nhóm nước tự nhiên. Đồng thời giảm thuế đối với nhóm sản phẩm từ rừng tự nhiên.

Giải trình về việc tăng thuế, Chính phủ cho biết nhóm khoáng sản kim loại, phi kim loại là loại tài nguyên không tái tạo, có giá trị kinh tế lớn. Tuy nhiên, việc khai thác một số khoáng sản vẫn chưa hiệu quả, gây lãng phí. Đa số các khoáng sản kim loại chưa được chế biến sâu. Một số loại khoáng sản phi kim loại cần phải hạn chế khai thác để đảm bảo sản xuất trong nước hoặc sử dụng các sản phẩm thay thế. Với nhóm nước thiên nhiên, nhu cầu sử dụng nước ngày càng gia tăng, trong khi việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước còn lãng phí, hiệu quả thấp, thiếu bền vững gây suy giảm nguồn tài nguyên nước.

Để góp phần bảo vệ, khai thác tài nguyên hợp lý, đảm bảo nguồn tài nguyên phục vụ nhu cầu trong nước thời gian tới, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó việc điều chỉnh mức thuế suất thuế tài nguyên là một giải pháp cần thiết, có tính khả thi. Điều này cũng phù hợp với chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng; về quản lý, khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường.

Đối với các sản phẩm của rừng tự nhiên, việc giảm thuế là để phù hợp với tiến trình đổi mới cơ chế quản lý, bảo vệ, khai thác và phát triển rừng theo Nghị quyết số 30 của Bộ Chính trị, trong đó đưa ra giải pháp:“Nghiên cứu giảm thuế suất thuế tài nguyên đối với gỗ khai thác rừng tự nhiên”.

Ngoài ra, hiện nay Việt Nam đã và đang thực hiện 10 Hiệp định thương mại quốc tế, chuẩn bị thực hiện Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU, Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)…. Một trong những yêu cầu khi thực hiện các Hiệp định thương mại quốc tế và tham gia các thị trường thương mại quốc tế là phải cắt, giảm thuế xuất nhập khẩu. Theo kinh nghiệm quốc tế, các nước đã sử dụng chính sách thuế nội địa, trong đó có chính sách thuế tài nguyên để thay thế cho thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải cắt giảm theo các cam kết quốc tế. Do đó, việc sử dụng các chính sách thuế nội địa, trong đó có thuế tài nguyên để đảm bảo nguồn thu NSNN là một trong những công cụ tài chính hiệu quả và khả thi.

Bên cạnh đó, theo tờ trình, thuế suất với một số khoáng sản được điều chỉnh như sau (lộ trình áp dụng khác nhau). Cụ thể:

Măng gan tăng từ 11% lên 14%; chì, kẽm tăng từ 10% lên 15%; Khoáng sản kim loại khác tăng từ 10% lên 15%; sắt tăng từ 12% lên 14%; Ti-tan tăng từ 16% lên 18% ; Vàng tăng từ 15% lên 17%; Đồng tăng từ 13% lên 15%; Bạch kim, bạc, thiếc tăng từ 10% lên 12%…

Cát tăng từ 11% lên mức trần 15%; cát làm thủy tinh tăng từ 13% lên mức trần 15%; Gờ-ra-nít tăng từ 10% lên 15%; Các khoáng sản không kim loại còn lại, trừ đá hoa trắng, than tăng thêm 3%. Riêng kim cương, ru-bi, sa-phia: tăng từ 22% lên 27%.

Đá hoa trắng tăng từ 9% lên mức trần 15%; Than tăng từ 7% lên 10% đối với than an-tra-xít hầm lò và than khác; tăng từ 9% lên 12% đối với than an-tra-xít lộ thiên, than nâu, than mỡ (mức trần theo Luật đối với than là 20%).

Nước khoáng thiên nhiên, nước nóng thiên nhiên, nước thiên nhiên tinh lọc đóng chai, đóng hộp tăng từ mức sàn 8% lên mức trần 10%. Nước thiên nhiên dùng cho thủy điện tăng từ 4% lên 5%. Nước thiên nhiên dùng cho sản xuất kinh doanh, đối với nước dưới đất, tăng từ 3% lên 5% đối với nước dùng cho sản xuất nước sạch, tăng từ 5% lên mức trần 8% đối với nước dùng cho mục đích khác.

Nhóm hải sản tự nhiên, nhóm yến sào thiên nhiên, nhóm dầu thô và khí thiên nhiên, khí than giữ nguyên như hiện hành.

Chính sách tài chính mới có hiệu lực trong tháng 11/2015


Rút gọn đối tượng tính thuế tài nguyên; giảm lệ phí cấp thị thực cho người nước ngoài; quy định mới về sử dụng xe ôtô công… là những chính sách tài chính mới có hiệu lực thi hành trong tháng 11/2015.
chinh-sach-tai-chinh-moi-hieu-luc-nam-2015

Miễn, giảm thi hành án với khoản thu, nộp NSNN

Liên Bộ Tư pháp – Tài chính – Tòa án Nhân dân tối cao – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao vừa ban hành Thông tư liên tịch 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC nhằm hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với khoản thu, nộp NSNN.

Theo hướng dẫn tại thông tư, thi hành được một phần khoản thu, nộp NSNN hoặc một phần án phí là đã thi hành được ít nhất bằng 1/50 khoản thu, nộp NSNN hoặc khoản án phí phải thi hành theo bản án, quyết định của Tòa án.

Trường hợp người đã được giảm một phần hình phạt tiền mà lại phạm tội mới thì chỉ xét giảm tiếp khi đã thi hành được một phần hình phạt tiền chung theo quy định của Bộ luật Hình sự về giảm mức hình phạt tiền đã tuyên.

Đối với trường hợp người phải thi hành án lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài hoặc lập công lớn thì sẽ được miễn phần án phí, tiền phạt còn lại nếu như đã tích cực thi hành một phần án phí theo quy định.

Thông tư liên tịch 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2015.

Lộ trình đăng ký thông tin và lựa chọn nhà thầu qua mạng

Nội dung này được hướng dẫn tại Thông tư liên tịch 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC quy định chi tiết việc cung cấp, đăng tải thông tin về đấu thầu và lựa chọn nhà thầu qua mạng.

Theo đó, từ ngày 01/7/2016, trước thời điểm đóng thầu 02 ngày làm việc, nhà thầu, nhà đầu tư chưa có xác nhận đăng ký thông tin trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia không được tham dự thầu đối với các gói thầu, dự án có hình thức lựa chọn nhà thầu tại Điều 20 đến Điều 26 Luật đấu thầu.

Đồng thời, Thông tư liên tịch này cũng quy định lộ trình lựa chọn nhà thầu qua mạng như sau: Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện theo lộ trình tại Điểm a Khoản 2 Điều 37. Riêng các cơ quan, đơn vị đã thực hiện thí điểm đấu thầu qua mạng từ ngày 01/7/2014 trở về trước thực hiện theo lộ trình tại Điểm b Khoản 2 Điều 37.

Thông tư liên tịch 07/2015/TTLT-BKHĐT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/11/2015.

Thời điểm ký kết hợp đồng bảo đảm tiền vay cho khoản vay lại

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 139/2015/TT-BTC hướng dẫn việc bảo đảm tiền vay cho khoản vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ.

Theo hướng dẫn tại thông tư, thời điểm ký kết Hợp đồng bảo đảm tiền vay cho khoản vay lại vốn vay nước ngoài của Chính phủ được quy định như sau:

Hợp đồng bảo đảm tiền vay hoặc Hợp đồng bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai được ký kết giữa Bên nhận bảo đảm và Bên bảo đảm chậm nhất trước đợt rút vốn đầu tiên của khoản vay lại.

Trường hợp không thể ký kết Hợp đồng bảo đảm tiền vay hoặc Hợp đồng bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai trước đợt rút vốn đầu tiên vì lý do khách quan, các bên liên quan có trách nhiệm báo cáo Bộ Tài chính nguyên nhân. Các bên thực hiện việc ký kết trước đợt rút vốn thứ hai.

Trường hợp các bên không ký kết Hợp đồng bảo đảm tiền vay hoặc Hợp đồng bảo đảm bằng tài sản hình thành trong tương lai theo quy định trên, Bên nhận bảo đảm báo cáo Bộ Tài chính tạm dừng khoản rút vốn tiếp theo cho người vay lại (Bên bảo đảm) hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Thông tư 139/2015/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/11/2015.

Rút gọn đối tượng tính thuế tài nguyên

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 152/2015/TT-BTC hướng dẫn về thuế tài nguyên, có hiệu lực thi hành từ ngày 20/11/2015.

Theo hướng dẫn mới, đối tượng chịu thuế tài nguyên được rút gọn từ 10 nhóm xuống còn 7 nhóm, gồm: Khoáng sản kim loại; khoáng sản không kim loại; sản phẩm của rừng tự nhiên; hải sản tự nhiên; nước thiên nhiên; yến sào thiên nhiên; các tài nguyên thiên nhiên khác (do Bộ Tài chính chủ trì phối hợp với các bộ, ngành liên quan báo cáo Chính phủ để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định).

Đặc biệt, hoạt động tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu thô, condensat và khí thiên nhiên, khí đồng hành, khí than được đưa ra khỏi phạm vi áp dụng của thông tư. Bộ Tài chính sẽ có những hướng dẫn riêng về việc áp dụng thuế tài nguyên với các tài nguyên này.

Giảm lệ phí thị thực cho người nước ngoài

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 157/2015/TT-BTC quy định chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng lệ phí cấp hộ chiếu, thị thực, giấy tờ về nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh và cư trú tại Việt Nam.

Theo quy định tại thông tư, kể từ ngày 23/11/2015, lệ phí thị thực có giá trị một lần giảm từ 45 USD xuống còn 25 USD; thị thực loại có giá trị đến 3 tháng giảm từ 95 USD còn 50 USD; loại có giá trị trên 3 tháng đến 6 tháng và loại có giá trị trên 6 tháng đến 1 năm giữ nguyên là 95 USD và 135 USD.

Thông tư bổ sung mức thu lệ phí cấp thị thực loại có giá trị trên 1 năm đến 2 năm là 145 USD; loại có giá trị trên 2 năm đến 3 năm, trên 3 năm đến 4 năm và trên 4 năm đến 5 năm có mức thu chung là 155 USD.

Lệ phí chuyển ngang giá trị thị thực, tạm trú còn giá trị từ hộ chiếu cũ sang hộ chiếu mới giảm từ 15 USD còn 5 USD; cấp thẻ tạm trú có giá trị trên 1 năm đến 2 năm tăng từ 100 USD lên 145 USD; thẻ tạm trú có giá trị trên 2 năm đến 5 năm tăng từ 120 USD lên 155 USD.

Quy định mới về sử dụng xe ô tô công

Thông tư 159/2015/TT-BTC hướng dẫn Quyết định 32/2015/QĐ-TTg quy định tiêu chuẩn, định mức và chế độ quản lý, sử dụng xe ô tô trong cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ vừa được Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành, có hiệu lực thi hành từ ngày 30/11/2015.

Theo Thông tư, việc trang bị xe ô tô phục vụ công tác chung đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị có chức danh lãnh đạo có hệ số phụ cấp chức vụ từ 0,7 trở lên thực hiện như sau: Văn phòng các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội được trang bị tối đa 3 xe ô tô/1 đơn vị.

Các cục và các tổ chức tương đương trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội được trang bị tối đa 2 xe ô tô/1 đơn vị.

Các đơn vị khác thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội (các Vụ, Ban và các tổ chức tương đương) được trang bị tối đa 1 xe ô tô/1 đơn vị.

Đối với Tổng cục và các tổ chức tương đương có chức danh lãnh đạo có hệ số phụ cấp chức vụ từ 0,7 trở lên thì Văn phòng Tổng cục được trang bị tối đa 2 xe ô tô/1 đơn vị; Cục và tổ chức tương đương trực thuộc Tổng cục được trang bị tối đa 1 xe ô tô/1 đơn vị. Các đơn vị khác thuộc Tổng cục được trang bị tối đa 1 xe ô tô/2 đơn vị.

Thông tư nêu rõ, xe ô tô phục vụ công tác được thay thế khi đã sử dụng vượt quá thời gian (15 năm) hoặc đã sử dụng ít nhất 250.000 km (đối với miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng hải đảo và vùng đặc biệt khó khăn là 200.000 km) mà không thể tiếp tục sử dụng hoặc bị hư hỏng mà không đảm bảo an toàn khi vận hành theo kiểm định của cơ quan có chức năng.

Lệ phí chứng thực không quá 200 nghìn đồng/bản

Từ ngày 30/11/2015, mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch thực hiện theo Thông tư liên tịch 158/2015/TTLT-BTC-BTP .

Cụ thể, mức thu lệ phí chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch như sau: Chứng thực bản sao từ bản chính: 2.000 đồng/trang. Từ trang thứ 03 trở lên thu 1.000 đồng/trang, nhưng mức thu tối đa thu không quá 200.000 đồng/bản.

Chứng thực chữ ký: 10.000 đồng/trường hợp (trường hợp được tính là một hoặc nhiều chữ ký trong một giấy tờ, văn bản).

Chứng thực hợp đồng, giao dịch: 30.000 đồng/hợp đồng, giao dịch; Chứng thực việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch: 20.000 đồng/hợp đồng, giao dịch; Sửa lỗi sai sót trong hợp đồng, giao dịch đã được chứng thực: 10.000 đồng/hợp đồng, giao dịch.

Thông tư liên tịch 158/2015/TTLT-BTC-BTP thay thế Thông tư liên tịch 92/2008/TTLT-BTC-BTP và Thông tư liên tịch 62/2013/TTLT-BTC-BTP./.

Hướng dẫn một số điểm mới về thuế tài nguyên


Ngày 02/10/2015 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 152/2015/TT-BTC hướng dẫn về thuế tài nguyên và có hiệu lực thi hành từ ngày 20/11/2015 thay thế Thông tư số 105/2010/TT-BTC ngày 23/7/2010.
thue-tai-nguyen

Thông tư này hướng dẫn về đối tượng chịu thuế; Người nộp thuế; Căn cứ tính thuế; Miễn, giảm thuế tài nguyên và tổ chức thực hiện theo các quy định tại Nghị định số 50/2010/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12 và một số Điều của Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/2/2015 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật Thuế.

Nếu trước đây đối với hoạt động tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu thô, khí thiên nhiên tại Việt Nam theo qui định của pháp luật về dầu khí do các nhà thầu thực hiện, có khai thác tài nguyên đều thuộc phạm vi áp dụng thuế tài nguyên, thì nay, đối với dầu thô, khí thiên nhiên, khí than thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính. Vì vậy, những tài nguyên này không hướng dẫn tại Thông tư số 152/2015/TT-BTC.

Theo thông tư, người nộp thuế (NNT) tài nguyên trong một số trường hợp được quy định cụ thể:

Đối với hoạt động khai thác tài nguyên khoáng sản thì NNT là tổ chức, hộ kinh doanh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép khai thác khoáng sản. Trường hợp tổ chức được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép khai thác khoáng sản, được phép hợp tác với tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên và có quy định riêng về NNT thì NNT tài nguyên được xác định theo văn bản đó. Trường hợp tổ chức được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy phép khai thác khoáng sản, sau đó có văn bản giao cho các đơn vị trực thuộc thực hiện khai thác tài nguyên thì mỗi đơn vị khai thác là NNT tài nguyên.

Tổ chức, cá nhân sử dụng nước từ công trình thuỷ lợi để phát điện là NNT tài nguyên (không phân biệt nguồn vốn đầu tư công trình thuỷ lợi). Trường hợp tổ chức quản lý công trình thuỷ lợi cung cấp nước cho tổ chức, cá nhân khác để sản xuất nước sinh hoạt hoặc sử dụng vào các mục đích khác (trừ trường hợp sử dụng nước để phát điện) thì tổ chức quản lý công trình thủy lợi là NNT.

Sản lượng bán ra lớn nhất là căn cứ tính thuế

Thông tư số 152/2015/TT-BTC quy định, trường hợp tài nguyên khai thác thu được sản phẩm tài nguyên có nhiều cấp độ, chất lượng, giá trị thương mại khác nhau thì sản lượng tài nguyên tính thuế được xác định theo sản lượng từng loại tài nguyên có cùng cấp độ, chất lượng, giá trị thương mại như nhau hoặc quy ra sản lượng của loại tài nguyên có sản lượng bán ra lớn nhất để làm căn cứ xác định sản lượng tính thuế cho toàn bộ sản lượng tài nguyên khai thác trong kỳ.

Trường hợp đất, đá, phế thải, bã xít thu được qua sàng tuyển mà bán ra thì phải nộp thuế tài nguyên đối với lượng tài nguyên có trong phế thải, bã xít bán ra theo giá bán và thuế suất tương ứng của tài nguyên có trong phế thải, bã xít.

Đối với tài nguyên khai thác không bán ra mà phải qua sản xuất, chế biến mới bán ra (tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu) thì sản lượng tài nguyên tính thuế là sản lượng tài nguyên khai thác được xác định bằng cách quy đổi từ sản lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ để bán ra theo định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm. Định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm do NNT kê khai căn cứ dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt, tiêu chuẩn công nghệ thiết kế để sản xuất sản phẩm đang ứng dụng, trong đó:

– Trường hợp sản phẩm bán ra là sản phẩm tài nguyên thì căn cứ định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm tài nguyên sản xuất bán ra.

– Trường hợp sản phẩm bán ra là sản phẩm công nghiệp thì căn định mức sử dụng tài nguyên tính trên một đơn vị sản phẩm công nghiệp sản xuất bán ra.

Việc xác định sản phẩm bán ra sau quá trình chế biến là sản phẩm công nghiệp hay không phải sản phẩm công nghiệp do Bộ quản lý nhà nước chuyên ngành thực hiện theo thẩm quyền.

Thông tư cũng nêu rõ, thuế suất thuế tài nguyên làm căn cứ tính thuế tài nguyên đối với từng loại tài nguyên khai thác được quy định tại Biểu mức thuế suất thuế tài nguyên ban hành kèm theo Nghị quyết số 712/2013/UBTVQH13 ngày 16/12/2013 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và các văn bản sửa đổi, bổ sung (nếu có).

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 20/11/2015 thay thế Thông tư số 105/2010/TT-BTC ngày 23/7/2010 của Bộ Tài chính.