Chữ Ký Số FPT – Hotline: 0932 780 176

Home » Posts tagged 'Thuế GTGT'

Tag Archives: Thuế GTGT

Ngành Thuế đã hoàn 98.000 tỷ đồng thuế GTGT

Đại điện lãnh đạo Vụ Kê khai và kế toán thuế – Tổng cục Thuế cho biết, trong năm 2016, tổng số tiền hoàn thuế GTGT cho các doanh nghiệp là 98.000 tỷ đồng, bằng 100% dự toán hoàn thuế, bằng 115% so với cùng kỳ năm 2015.

Cán bộ thuế của Chi cục Thuế Kim Bảng (Hà Nam) kiểm tra hồ sơ thuế của doanh nghiệp.

Cán bộ thuế của Chi cục Thuế Kim Bảng (Hà Nam) kiểm tra hồ sơ thuế của doanh nghiệp.

Nắm bắt kịp thời đối tượng nộp thuế

Điểm lại về công tác quản lý kê khai, kế toán thuế năm 2016, đại diện Tổng cục Thuế cho biết, công tác kiểm kê, rà soát mã số thuế luôn được cơ quan thuế các cấp quan tâm và chú trọng đảm bảo kiểm soát, nắm bắt kịp thời đối tượng nộp thuế, để đưa vào diện theo dõi, quản lý thuế.

Năm 2016, toàn quốc có 110.270 DN thành lập mới, có 74.922 DN ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD), giảm 17,7% so với cùng kỳ; có 20.126 DN tạm nghỉ sản xuất kinh doanh, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2013; có 16.153 DN đang tạm nghỉ kinh doanh nay quay trở lại hoạt động.

Đến thời điểm cuối năm 2016, toàn quốc hiện có 570.888 DN đang hoạt động, tăng 10,8% so với năm 2015.

Cơ quan thuế các cấp cũng đã tăng cường công tác đôn đốc nộp tờ khai, kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế của người nộp thuế (NNT), phát hiện ngay các trường hợp kê khai không đúng, không đủ, không kịp thời số thuế phải nộp để có các biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời.

Do vậy, trong thời gian qua, về cơ bản NNT đều chấp hành tốt việc kê khai, nộp thuế kịp thời, sát với số phát sinh, bình quân chung cả nước, tổng số tờ khai thuế (TK) đạt 93% trên tổng số tờ khai phải nộp, tỷ lệ tờ khai nộp đúng hạn/tờ khai đã nộp đạt 96%. Số TK không nộp chiếm 7% tổng số TK phải nộp và giảm 20% so với cùng kỳ năm 2015.

Báo cáo tại hội tổng kết trực tuyến mới đây, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Cao Anh Tuấn cho biết, trong năm qua, Tổng cục Thuế thực hiện giám sát hồ sơ hoàn thuế theo 2 giai đoạn (trước và sau khi có Thông tư số 99/2016/TT-BTC).

Kết quả trong 2.719 hồ sơ đề nghị giám sát (với tổng số tiền đề xuất hoàn thuế GTGT tương ứng là 14.080 tỷ đồng), có 2.468 hồ sơ đã thực hiện xong, trong đó 378 hồ sơ với số tiền tương ứng là 2.435,95 tỷ đồng không đủ điều kiện hoàn thuế.

Tính đến 31/12/2016, Tổng cục Thuế đang tiếp tục giám sát 251 hồ sơ với tổng số tiền thuế GTGT đề xuất hoàn là 1.532,15 tỷ đồng.

Bước đầu đã thực hiện có kết quả trong việc thanh tra, kiểm tra sau hoàn thuế GTGT, Tổng cục Thuế đã thực hiện thanh tra 12 doanh nghiệp có số hoàn thuế trên 99 tỷ đồng, xử lý thu hồi hoàn trên 723 tỷ đồng; các Cục Thuế địa phương đã thực hiện thanh tra sau hoàn đối với 7.486 hồ sơ, số tiền truy hoàn và phạt là 342,68 tỷ đồng.

Năm 5 mục tiêu về hoàn thuế trong năm 2017

Trong năm 2016, tổng số tiền hoàn thuế GTGT là 98.000 tỷ đồng, bằng 100% dự toán hoàn thuế năm 2016, bằng 115% so với cùng kỳ năm 2015.

Trong đó, chi cho quyết định hoàn thuế và lệnh hoàn năm 2015 sử dụng dự toán 2016 để chi là 7.556 tỷ đồng; chi cho quyết định hoàn thuế năm 2015 và lệnh hoàn năm 2016 do hết dự toán là 6.780 tỷ đồng; chi cho quyết định hoàn thuế và lệnh hoàn năm 2016 (bao gồm cả hồ sơ hoàn thuế đang giải quyết năm 2015 chuyển sang năm 2016) là 83.664 tỷ đồng.

Những địa phương tiêu biểu trong công tác kê khai, kế toán thuế, hoàn thuế gồm có: Cần Thơ, Kon Tum, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Bắc Ninh, Tuyên Quang, Đồng Nai, Quảng Ninh, Bình Thuận, Quãng Ngãi, Ninh Thuận, Gia Lai, Bình Phước Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Nghệ An…

Phó Tổng cục trưởng Cao Anh Tuấn cho biết thêm, trong năm 2017, nhằm đảm bảo quản lý chặt chẽ hoàn thuế GTGT trong phạm vi dự toán được giao và tạo thuận lợi cho NNT thực hiện tốt pháp luật về thuế, cải cách thủ tục, quy trình hoàn thuế hiệu quả, Tổng cục Thuế đã giao nhiệm vụ tập trụng thực hiện cho được 5 mục tiêu chính.

Cụ thể: Hoàn thuế GTGT trong phạm vi dự toán được giao (105 ngàn tỷ đồng, bao gồm chi cho các Quyết định hoàn thuế năm 2016). 90% hồ sơ hoàn thuế được giải quyết đúng thời hạn quy định.

Cùng với đó, thực hiện hoàn thuế điện tử trên toàn quốc, cuối năm 2017 đạt tỷ lệ 95% hồ sơ hoàn thuế được tiếp nhận và trả kết quả bằng phương thức điện tử. Tỷ lệ hồ sơ hoàn thuế trước, kiểm tra sau đạt ít nhất 80%; thí điểm bộ tiêu chí và chỉ số phân loại giải quyết hồ sơ hoàn thuế GTGT tại 6 cục thuế.

Tỷ lệ thanh tra kiểm tra sau hoàn thuế đối với các hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau đạt ít nhất 20%; thí điểm Bộ tiêu chí và chỉ số lựa chọn doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro để xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra sau hoàn thuế GTGT tại 6 cục thuế./.

Giải đáp và hướng dẫn về thuế GTGT và thuế TNDN

Tổng cục Thuế nhận được công văn số 81528/CT-HTr ngày 21/12/2015 của Cục Thuế thành phố Hà Nội về chính sách thuế. Về vấn đề này, ngày 30/5/2016 Tổng cục Thuế có Công văn số 2329/TT-CS giải đáp như sau:
cap-ma-so-thue-tu-dong

Tại khoản 5 Điều 7 Thông tư số 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về giá tính thuế:

“5. Đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại theo quy định của pháp luật về thương mại, giá tính thuế được xác định bằng không (0); trường hợp hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại nhưng không thực hiện theo quy định của pháp luật về thương mại thì phải kê khai, tính nộp thuế như hàng hoá, dịch vụ dùng để tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, cho.

c) Đối với các hình thức khuyến mại bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ thì không phải kê khai, tính thuế GTGT đối với phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ tặng kèm. ”

Tại khoản 1,2 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014 của Bộ Tài chính quy định các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế:

“1. Trừ các khoản chi không được trừ nêu tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

a)Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp;

b)Khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật.

2.Các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế bao gồm:

2.21. Phần chi vượt quá 15% tổng số chi được trừ, bao gồm: chi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới; chi tiếp tân, khánh tiết, hội nghị; chi hỗ trợ tiếp thị, chi hỗ trợ chi phí; chi cho, biếu, tặng hàng hoá, dịch vụ cho khách hàng.”

Tại Điều 4 thông tư số 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung tại Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 119/2014/TT-BTC và Điều 1 Thông tư số 151/2014/TT-BTC).

Căn cứ hướng dẫn nêu trên:

1.Về thuế GTGT:

Tổng cục Thuế thống nhất với ý kiến xử lý của Cục Thuế thành phố Hà Nội về việc sử dụng hoá đơn chứng từ khi tặng quà tại Công văn số 81528/CT-HTr nêu trên.

2.Về thuế TNDN:

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam có thực hiện các hình thức tặng quà cho khách hàng nhằm mục đích phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh và phù hợp với quy định của pháp luật thương mại thì đơn vị được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN đối với các khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật. Mức chi khống chế thực hiện theo hướng dẫn tại Điểm 2.21 Điều 6 Thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/6/2014, kể từ năm 2015 thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư 96/2015/TT-BTC ngày 22/6/2015 của Bộ Tài chính.

Cân nhắc bổ sung đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng

Nhiều ý kiến đề nghị cân nhắc việc bổ sung vào đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường được bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã bởi nếu doanh nghiệp không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, từ đó làm tăng giá thành sản phẩm, gây khó khăn cho doanh nghiệp và tăng giá thành hàng hóa là đầu vào của sản xuất nông nghiệp.
thue-gia-tri-gia-tang

Trả lời vấn đề này, đại diện Vụ chính sách thuế, Bộ Tài chính cho biếtTheo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật thuế GTGT thì: sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu không chịu thuế GTGT. Theo khoản 2 Điều 8 Luật thuế GTGT, nếu những sản phẩm này được bán ở khâu thương mại phải chịu thuế GTGT với mức thuế suất 5%.

Để khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh đối với mặt hàng nông sản, thủy sản cần điều chỉnh chính sách thuế GTGT đối với hoạt động này, theo hướng chuyển từ mức thuế suất 5% sang thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Đồng thời hạn chế việc doanh nghiệp lợi dụng quy định trên mua nông sản của nông dân (không chịu thuế GTGT) sau đó mua hóa đơn có thuế 5% để hợp thức đầu vào, lòng vòng qua nhiều khâu thương mại trung gian trước khi bán cho cơ sở xuất khẩu để cơ sở này được hoàn thuế. Nhằm vừa khuyến khích sản xuất kinh doanh, vừa khắc phục tình trạng gian lận này, các hiệp hội, các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đã kiến nghị quy định không chịu thuế GTGT đối với hàng hóa là nông, lâm, thủy sản ở khâu kinh doanh thương mại.

Đại diện Vụ chính sách thuế cho biết, thực tế, nhiều doanh nghiệp lợi dụng mua nông sản của nông dân (không chịu thuế GTGT) sau đó mua hóa đơn có thuế 5% để hợp thức đầu vào, lòng vòng qua nhiều khâu thương mại trung gian trước khi bán cho cơ sở xuất khẩu để cơ sở này được hoàn thuế. Nhằm khắc phục tình trạng gian lận này, trong phạm vi nội dung Quốc hội cho phép, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 trong đó quy định cơ sở kinh doanh không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT đầu ra ở khâu kinh doanh thương mại đối với sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác.

Việc thực hiện quy định này trên thực tế trong thời gian qua đã phát huy hiệu quả ngăn chặn kịp thời tình trạng gian lận trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào. Để bảo đảm minh bạch và nâng cao cơ sở pháp lý, tiếp thu ý kiến trên, Bộ Tài chính đề nghị nâng quy định tại Nghị định 209/2013/NĐ-CP lên Luật, theo đó, sửa đổi quy định khoản 1 Điều 5 Luật thuế GTGT như sau: “Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu. Trường hợp các sản phẩm này bán bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT”.

TP HCM: gỡ vướng về thuế và hải quan cho kiều bào

Trung tâm Xúc tiến thương mại và đầu tư TP HCM vừa phối hợp cùng Ủy ban người Việt Nam ở nước ngoài TP HCM tổ chức đối thoại giữa DN kiều bào với lãnh đạo Cục Thuế, Cục Hải quan TP HCM vào ngày 21/8/2015. Tham gia hội nghị có khoảng 70 DN, cá nhân là Việt kiều đã bày tỏ nhiều mối quan tâm đến việc thay đổi chính sách thuế mới, hóa đơn chứng từ khi đi công tác nước ngoài, thuế chuyển quyền sở hữu nhà, thuế và điều kiện nhập khẩu ôtô.
go-vuong-ve-thue-va-hai-quan

Về chính sách pháp luật thuế, bà Trần Thị Lệ Nga, Phó cục trưởng Cục Thuế TP HCM cho biết, với tinh thần cầu thị, Cục Thuế TP muốn lắng nghe ý kiến của các cá nhân, DN Việt kiều về chính sách thuế, quản lý thuế để từ đó có thể đưa ra hướng dẫn, trả lời trong thẩm quyền của mình. Với những kiến nghị vượt thẩm quyền, Cục Thuế sẽ tập hợp lại để báo cáo Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế xem xét sửa đổi bổ sung trong thời gian tới. Thông tin về các chính sách thuế mới thay đổi gần đây, theo đại diện Cục Thuế TP HCM là nhằm tạo sự thông thoáng, thuận lợi hơn cho người nộp thuế. Mới đây nhất, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 92 hướng dẫn về thuế TNCN có hiệu lực thi hành từ ngày 30/7/2015; Thông tư số 96 về thuế TNDN có hiệu lực thi hành từ ngày 6/8/2015. Vì vậy, trong suốt tuần lễ vừa qua từ ngày 17 đến 21/8/2015, tại Nhà hát Hòa Bình, Cục Thuế TP HCM đã tổ chức tập huấn cho hàng chục ngàn DN về chính sách thuế mới với mục tiêu giúp DN tiếp cận, nắm bắt kịp thời các quy định mới áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2015.

Về lĩnh vực hải quan, ông Đinh Ngọc Thắng, Phó cục trưởng Cục Hải quan TP HCM đã cập nhật chính sách, pháp luật mới về hải quan đang được kiều bào quan tâm. Theo đó, Luật Hải quan và các nghị định, thông tư liên quan khi được sửa đổi bổ sung đều thể hiện tinh thần chuyển đổi từ tư duy quản lý thủ công sang quản lý hải quan hiện đại. Hải quan thành phố cũng đã thông tin thêm đến bà con Việt kiều về những quy định mới thay đổi về hành lý nhập cảnh được miễn hết các loại thuế nếu có tổng trị giá không quá 10 triệu đồng (tăng gấp đôi so với định mức miễn thuế cũ là 5 triệu đồng). Đối với tài sản của Việt kiều là trí thức, chuyên gia, công nhân lành nghề về nước làm việc trong thời gian từ 1 năm trở lên theo lời mời của Nhà nước Việt Nam sẽ được miễn hết các loại thuế, kể cả đối với xe ôtô (không phân biệt xe mới, hay đã qua sử dụng).

Phát biểu tại hội nghị đối thoại, ông Lê Ngọc Thạnh, Việt kiều Canada đại diện cho Công ty TNHH nhà thép Canada – Thái Bình Dương đặt vấn đề: “Công ty chúng tôi hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, muốn nhập con giống nuôi trồng thủy sản là một công đoạn rất nhiêu khê, nếu chậm trễ thì các con giống này sẽ chết hết. Vậy hải quan ở cửa khẩu có giải quyết sớm được không, các thủ tục kiểm dịch sẽ như thế nào?”.

Giải đáp vấn đề vừa nêu, đại diện lãnh đạo Cục Hải quan TP thông tin: “Để thông quan một lô hàng, hiện nay phải tuân thủ quy định của 16 cơ quan quản lý chuyên ngành. Chính vì thế, Hải quan TP HCM cũng vừa ký kết với các cơ quan quản lý nông nghiệp, y tế, công thương, giám định… nhằm giảm bớt các thủ tục, rút ngắn thời gian thông quan hàng hóa mà Chính phủ đề ra”.

Cũng tại hội nghị, các câu hỏi về thuế được kiều bào gửi trước cho Ban tổ chức liên quan đến thuế TNCN, chi phí hợp lý hợp lệ, hóa đơn chứng từ khi mua hàng hóa và dịch vụ qua mạng, thủ tục và các loại thuế khi mua đi bán lại các sản phẩm phụ của ngành trồng trọt, DN có phải thông báo cơ quan thuế khi thay đổi ngành nghề kinh doanh đều được đại diện Cục Thuế trả lời thỏa đáng. Trong phần đối thoại trực tiếp, đại diện Cục Thuế TP HCM nhấn mạnh, tại hội nghị này, cơ quan thuế sẵn sàng trả lời hết các câu hỏi của DN liên quan đến công tác quản lý thuế, chính sách thuế.

Cũng theo bà Trần Thị Lệ Nga, dự kiến trong kỳ họp Quốc hội vào tháng 10 tới đây sẽ thông qua một số điều sửa đổi bổ sung các Luật quản lý thuế, thuế GTGT… trên cơ sở rà soát những quy định của các sắc thuế hiện hành để tiếp tục tạo thuận lợi hơn nữa cho người nộp thuế, cũng như đảm bảo nhu cầu quản lý phù hợp với thực tế phát triển kinh tế của Việt Nam và thông lệ quốc tế./.

Thuế GTGT, TNCN đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh

Ngày 15/06/2015, Bộ Tài chính ban hành Thông tư 92/2015/TT-BTC hướng dẫn thực hiện thuế GTGT và thuế TNCN đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh; hướng dẫn thực hiện một số nội dung sửa đổi, bổ sung về thuế TNCN.

Thông tư số 92/2015/TT-BTC hướng dẫn chi tiết việc kê khai thuế GTGT, thuế TNCN đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo từng lần phát sinh; việc kê khai thuế đối với cá nhân cho thuê tài sản, làm đại lý xổ số, bảo hiểm, bán hàng đa cấp; và sửa đổi một số quy định liên quan đến thu nhập chịu thuế TNCN, thu nhập được miễn thuế TNCN; thuế TNCN đối với chuyển nhượng chứng khoán, hồ sơ, biểu mẫu khai thuế TNCN.

Cụ thể, theo quy định tại Thông tư 92, cá nhân kinh doanh nếu có thu nhập dưới 100 triệu đồng/năm thì được miễn cả thuế GTGT và thuế TNCN. Trường hợp có thu nhập từ 100 triệu trở lên thì phải khai nộp thuế GTGT, thuế TNCN theo tỷ lệ/doanh thu lần lượt như sau: Phân phối, cung cấp hàng hóa (tỷ lệ thuế GTGT là 1%; tỷ lệ thuế TNCN là 0,5%); Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu (tỷ lệ thuế GTGT là 5%; tỷ lệ thuế TNCN là 2%); Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu (tỷ lệ thuế GTGT là 3%; tỷ lệ thuế TNCNlà 1,5%); Hoạt động kinh doanh khác (tỷ lệ thuế GTGT là 2%; tỷ lệ thuế TNCN là 1%).

Đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán, Thông tư 92 bổ sung trường hợp cá nhân nộp thuế khoán kinh doanh không trọn năm (không đủ 12 tháng trong năm dương lịch) bao gồm: cá nhân mới ra kinh doanh; cá nhân kinh doanh thường xuyên theo thời vụ; cá nhân ngừng/nghỉ kinh doanh thì mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế giá trị gia tăng, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân là doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân của một năm (12 tháng); doanh thu tính thuế thực tế để xác định số thuế phải nộp trong năm là doanh thu tương ứng với số tháng thực tế kinh doanh. Trường hợp cá nhân nộp thuế khoán đã được cơ quan thuế thông báo số thuế khoán phải nộp, nếu kinh doanh không trọn năm thì cá nhân được giảm thuế khoán phải nộp tương ứng với số tháng ngừng/nghỉ kinh doanh trong năm.

Thời điểm xác định doanh thu tính thuế khoán là từ ngày 20/11 đến ngày 15/12 của năm trước năm tính thuế. Đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế khoán mới ra kinh doanh (không hoạt động từ đầu năm) hoặc cá nhân thay đổi quy mô, ngành nghề kinh doanh trong năm thì thời điểm xác định doanh thu tính thuế khoán là trong vòng 10 ngày kể từ ngày bắt đầu kinh doanh hoặc ngày thay đổi quy mô, ngành nghề kinh doanh.

Đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo từng lần phát sinh, Thông tư 92 quy định cụ thể cá nhân kinh doanh nộp thuế theo từng lần phát sinh gồm: cá nhân cư trú có phát sinh doanh thu kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam; cá nhân kinh doanh không thường xuyên và không có địa điểm kinh doanh cố định; cá nhân hợp tác kinh doanh với tổ chức theo hình thức xác định được doanh thu kinh doanh của cá nhân. Mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế GTGT và TNCN là tổng doanh thu từ kinh doanh trong năm dương lịch bao gồm cả các khoản bồi thường, phạt vi phạm hợp đồng mà cá nhân kinh doanh được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.

Cá nhân thực hiện khai thuế GTGT, TNCN theo từng lần phát sinh nếu có tổng doanh thu kinh doanh trong năm dương lịch trên 100 triệu đồng và nộp hồ sơ khai thuế tại Chi cục Thuế nơi cá nhân cư trú (thường trú hoặc tạm trú) chậm nhất là ngày thứ 30 (ba mươi) của quý tiếp theo quý phát sinh doanh thu tính thuế.

Đối với cá nhân cho thuê tài sản thì mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế GTGT và TNCN là tổng doanh thu phát sinh trong năm dương lịch của các hợp đồng cho thuê tài sản. Trường hợp cá nhân đồng sở hữu tài sản cho thuê thì mức doanh thu này được xác định cho 01 người đại diện duy nhất trong năm tính thuế. Trường hợp bên thuê trả tiền thuê tài sản trước cho nhiều năm thì doanh thu tính thuế GTGT và TNCN xác định theo doanh thu trả tiền một lần. Doanh thu tính thuế TNCN đối với hoạt động cho thuê tài sản bao gồm cả khoản tiền phạt, bồi thường theo thỏa thuận tại hợp đồng thuê tài sản. Doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thuê tài sản của cá nhân có trách nhiệm khấu trừ thuế GTGT, thuế TNCN trước khi trả thu nhập trên 100 triệu đồng/năm cho cá nhân cho thuê tài sản nếu trong hợp đồng thuê có thoả thuận bên đi thuê là người nộp thuế thay.

Nếu tài sản cho thuê tại địa bàn có cùng cơ quan thuế quản lý thì cá nhân khai thuế theo từng hợp đồng hoặc khai thuế cho nhiều hợp đồng trên một tờ khai. Thời hạn nộp hồ sơ khai thuế đối với cá nhân khai thuế theo kỳ hạn thanh toán chậm nhất là ngày thứ 30 (ba mươi) của quý tiếp theo quý bắt đầu thời hạn cho thuê, còn thuế đối với cá nhân khai thuế một lần theo năm thì thời hạn nộp hồ sơ chậm nhất là ngày thứ 90 (chín mươi) kể từ ngày kết thúc năm dương lịch.

Đối với cá nhân trực tiếp ký hợp đồng làm đại lý xổ số, bảo hiểm, bán hàng đa cấp theo hình thức đại lý bán hàng đúng giá thì mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế TNCN là tổng số tiền hoa hồng của đại lý, các khoản thưởng dưới mọi hình thức, các khoản hỗ trợ và các khoản thu khác mà cá nhân nhận được trong năm dương lịch.

Thông tư cũng quy định rõ công ty xổ số, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp bán hàng đa cấp trước khi trả tiền hoa hồng cho cá nhân làm đại lý xổ số, đại lý bảo hiểm, tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp với số tiền hoa hồng trên 100 triệu đồng/năm có trách nhiệm khấu trừ thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ thuế TNCN 5%.

Ngoài ra, Thông tư 92 còn bổ sung nhiều quy định về thu nhập chịu thuế, thu nhập miễn thuế, thuế suất thuế TNCN đối với chuyển nhượng chứng khoán và chuyển nhượng bất động sản…cụ thể:

Không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN đối với các khoản phụ cấp, trợ cấp không tính vào thu nhập chịu thuế TNCN bao gồm khoản trợ cấp, phụ cấp người Việt Nam cư trú dài hạn ở nước ngoài về Việt Nam làm việc; khoản tiền phí mua sản phẩm bảo hiểm không bắt buộc và không có tích lũy về phí bảo hiểm do người sử dụng lao động mua cho người lao động; Khoản chi về phương tiện phục vụ đưa đón người lao động từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại thì không tính vào thu nhập chịu thuế của người lao động theo quy chế của đơn vị.

Thêm các khoản thu nhập được miễn thuế TNCN đối với trường hợp cá nhân nhận được tiền từ nước ngoài do thân nhân là người nước ngoài gửi về đáp ứng điều kiện về khuyến khích chuyển tiền về nước theo quy định của Ngân hàng nhà nước; Khoản thu nhập từ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ Luật dân sự; Thu nhập từ tiền lương, tiền công của thuyền viên là người Việt Nam nhận được do làm việc cho các hãng tàu nước ngoài hoặc các hãng tàu Việt Nam vận tải quốc tế; Thu nhập của cá nhân là chủ tàu, cá nhân có quyền sử dụng tàu và cá nhân làm việc trên tàu có được từ hoạt động cung cấp hàng hóa, dịch vụ trực tiếp phục vụ hoạt động khai thác thủy sản xa bờ; Khoản chi đám hiếu, hỉ cho bản thân và gia đình người lao động.

Áp dụng một mức thuế suất thuế TNCN đối với chuyển nhượng chứng khoán và chuyển nhượng bất động sản, theo đó: đối với hoạt động chuyển nhượng chứng khoán nộp thuế theo thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần; đối với chuyển nhượng bất động sản là 2% trên giá chuyển nhượng hoặc giá cho thuê lại. Người nộp thuế sẽ không phải quyết toán thuế TNCN đối với khoản thu nhập từ các hoạt động này. Trước đây, cá nhân chuyển nhượng chứng khoán có thể áp dụng nộp thuế theo thuế suất 20% trên thu nhập chịu thuế hoặc áp dụng thuế suất 0.1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần. Còn đối với chuyển nhượng bất động sản là 25% trên thu nhập tính thuế, trường hợp người nộp thuế không xác định hoặc không có hồ sơ để xác định giá vốn hoặc giá mua hoặc giá thuê và chứng từ hợp pháp xác định các chi phí liên quan làm cơ sở xác định thu nhập tính thuế thì áp dụng thuế suất 2% trên giá chuyển nhượng hoặc giá bán hoặc giá cho thuê lại.

Trên đây là một số điểm mới được quy định tại Thông tư 92/TT-BTC về thuế GTGT và thuế TNCN. Thông tư có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30/7/2015 và áp dụng cho kỳ tính thuế thu nhập cá nhân từ năm 2015 trở đi.