Chữ Ký Số FPT – Hotline: 0932 780 176

Home » Posts tagged 'thuế giá trị gia tăng'

Tag Archives: thuế giá trị gia tăng

Ngành Thuế đã hoàn 98.000 tỷ đồng thuế GTGT


Đại điện lãnh đạo Vụ Kê khai và kế toán thuế – Tổng cục Thuế cho biết, trong năm 2016, tổng số tiền hoàn thuế GTGT cho các doanh nghiệp là 98.000 tỷ đồng, bằng 100% dự toán hoàn thuế, bằng 115% so với cùng kỳ năm 2015.

Cán bộ thuế của Chi cục Thuế Kim Bảng (Hà Nam) kiểm tra hồ sơ thuế của doanh nghiệp.

Cán bộ thuế của Chi cục Thuế Kim Bảng (Hà Nam) kiểm tra hồ sơ thuế của doanh nghiệp.

Nắm bắt kịp thời đối tượng nộp thuế

Điểm lại về công tác quản lý kê khai, kế toán thuế năm 2016, đại diện Tổng cục Thuế cho biết, công tác kiểm kê, rà soát mã số thuế luôn được cơ quan thuế các cấp quan tâm và chú trọng đảm bảo kiểm soát, nắm bắt kịp thời đối tượng nộp thuế, để đưa vào diện theo dõi, quản lý thuế.

Năm 2016, toàn quốc có 110.270 DN thành lập mới, có 74.922 DN ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD), giảm 17,7% so với cùng kỳ; có 20.126 DN tạm nghỉ sản xuất kinh doanh, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2013; có 16.153 DN đang tạm nghỉ kinh doanh nay quay trở lại hoạt động.

Đến thời điểm cuối năm 2016, toàn quốc hiện có 570.888 DN đang hoạt động, tăng 10,8% so với năm 2015.

Cơ quan thuế các cấp cũng đã tăng cường công tác đôn đốc nộp tờ khai, kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế của người nộp thuế (NNT), phát hiện ngay các trường hợp kê khai không đúng, không đủ, không kịp thời số thuế phải nộp để có các biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời.

Do vậy, trong thời gian qua, về cơ bản NNT đều chấp hành tốt việc kê khai, nộp thuế kịp thời, sát với số phát sinh, bình quân chung cả nước, tổng số tờ khai thuế (TK) đạt 93% trên tổng số tờ khai phải nộp, tỷ lệ tờ khai nộp đúng hạn/tờ khai đã nộp đạt 96%. Số TK không nộp chiếm 7% tổng số TK phải nộp và giảm 20% so với cùng kỳ năm 2015.

Báo cáo tại hội tổng kết trực tuyến mới đây, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế Cao Anh Tuấn cho biết, trong năm qua, Tổng cục Thuế thực hiện giám sát hồ sơ hoàn thuế theo 2 giai đoạn (trước và sau khi có Thông tư số 99/2016/TT-BTC).

Kết quả trong 2.719 hồ sơ đề nghị giám sát (với tổng số tiền đề xuất hoàn thuế GTGT tương ứng là 14.080 tỷ đồng), có 2.468 hồ sơ đã thực hiện xong, trong đó 378 hồ sơ với số tiền tương ứng là 2.435,95 tỷ đồng không đủ điều kiện hoàn thuế.

Tính đến 31/12/2016, Tổng cục Thuế đang tiếp tục giám sát 251 hồ sơ với tổng số tiền thuế GTGT đề xuất hoàn là 1.532,15 tỷ đồng.

Bước đầu đã thực hiện có kết quả trong việc thanh tra, kiểm tra sau hoàn thuế GTGT, Tổng cục Thuế đã thực hiện thanh tra 12 doanh nghiệp có số hoàn thuế trên 99 tỷ đồng, xử lý thu hồi hoàn trên 723 tỷ đồng; các Cục Thuế địa phương đã thực hiện thanh tra sau hoàn đối với 7.486 hồ sơ, số tiền truy hoàn và phạt là 342,68 tỷ đồng.

Năm 5 mục tiêu về hoàn thuế trong năm 2017

Trong năm 2016, tổng số tiền hoàn thuế GTGT là 98.000 tỷ đồng, bằng 100% dự toán hoàn thuế năm 2016, bằng 115% so với cùng kỳ năm 2015.

Trong đó, chi cho quyết định hoàn thuế và lệnh hoàn năm 2015 sử dụng dự toán 2016 để chi là 7.556 tỷ đồng; chi cho quyết định hoàn thuế năm 2015 và lệnh hoàn năm 2016 do hết dự toán là 6.780 tỷ đồng; chi cho quyết định hoàn thuế và lệnh hoàn năm 2016 (bao gồm cả hồ sơ hoàn thuế đang giải quyết năm 2015 chuyển sang năm 2016) là 83.664 tỷ đồng.

Những địa phương tiêu biểu trong công tác kê khai, kế toán thuế, hoàn thuế gồm có: Cần Thơ, Kon Tum, Vĩnh Phúc, Lào Cai, Bắc Ninh, Tuyên Quang, Đồng Nai, Quảng Ninh, Bình Thuận, Quãng Ngãi, Ninh Thuận, Gia Lai, Bình Phước Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Nghệ An…

Phó Tổng cục trưởng Cao Anh Tuấn cho biết thêm, trong năm 2017, nhằm đảm bảo quản lý chặt chẽ hoàn thuế GTGT trong phạm vi dự toán được giao và tạo thuận lợi cho NNT thực hiện tốt pháp luật về thuế, cải cách thủ tục, quy trình hoàn thuế hiệu quả, Tổng cục Thuế đã giao nhiệm vụ tập trụng thực hiện cho được 5 mục tiêu chính.

Cụ thể: Hoàn thuế GTGT trong phạm vi dự toán được giao (105 ngàn tỷ đồng, bao gồm chi cho các Quyết định hoàn thuế năm 2016). 90% hồ sơ hoàn thuế được giải quyết đúng thời hạn quy định.

Cùng với đó, thực hiện hoàn thuế điện tử trên toàn quốc, cuối năm 2017 đạt tỷ lệ 95% hồ sơ hoàn thuế được tiếp nhận và trả kết quả bằng phương thức điện tử. Tỷ lệ hồ sơ hoàn thuế trước, kiểm tra sau đạt ít nhất 80%; thí điểm bộ tiêu chí và chỉ số phân loại giải quyết hồ sơ hoàn thuế GTGT tại 6 cục thuế.

Tỷ lệ thanh tra kiểm tra sau hoàn thuế đối với các hồ sơ thuộc diện hoàn thuế trước, kiểm tra sau đạt ít nhất 20%; thí điểm Bộ tiêu chí và chỉ số lựa chọn doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro để xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra sau hoàn thuế GTGT tại 6 cục thuế./.

Kê khai, nộp thuế GTGT tại chi nhánh phụ thuộc


Tổng cục Thuế vừa có văn bản 1421/TCT-KK trả lời Công ty cổ phần Nhựa Rạng Đông về việc kê khai, nộp thuế GTGT tại chi nhánh phụ thuộc.

nop-thue-gtgt-1

Tổng cục Thuế cho biết, trường hợp Công ty cổ phần Nhựa Rạng Đông, trụ sở chính tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành lập cơ sở sản xuất trực thuộc là Chi nhánh Công ty cổ phần Nhựa Rạng Đông – Nhà máy Nhựa Tiên Sơn thuộc địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Chi nhánh trực thuộc chỉ hoạt động sản xuất, không trực tiếp bán hàng, không phát sinh doanh thu, không thực hiện hạch toán kế toán thì Công ty cổ phần Nhựa Rạng Đông thực hiện khai thuế tại trụ sở chính (Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh) và nộp thuế cho địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc (Cục Thuế tỉnh Bắc Ninh).

Số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc được xác định theo tỷ lệ 2% (đối với hàng hóa chịu thuế suất thuế GTGT 10%) hoặc theo tỷ lệ 1% (đối với hàng hóa chịu thuế suất thuế GTGT 5%) trên doanh thu theo giá chưa có thuế GTGT của sản phẩm sản xuất ra. Việc xác định doanh thu của sản phẩm sản xuất ra được xác định trên cơ sở giá thành sản phẩm hoặc doanh thu của sản phẩm cùng loại tại địa phương nơi có cơ sở sản xuất.

Trường hợp tổng số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc do người nộp thuế xác định theo nguyên tắc nêu trên lớn hơn số thuế giá trị gia tăng phải nộp của người nộp thuế tại trụ sở chính thì người nộp thuế tự phân bổ số thuế phải nộp cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc như sau: Số thuế giá trị gia tăng phải nộp cho địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc được xác định bằng (=) số thuế giá trị gia tăng phải nộp của người nộp thuế tại trụ sở chính nhân (x) với tỷ lệ (%) giữa doanh thu theo giá chưa có thuế giá trị gia tăng của sản phẩm do cơ sở trực thuộc sản xuất ra hoặc sản phẩm cùng loại tại địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc trên tổng doanh thu theo giá chưa có thuế giá trị gia tăng của sản phẩm sản xuất ra của toàn doanh nghiệp. Nếu người nộp thuế không phát sinh số thuế phải nộp tại trụ sở chính thì người nộp thuế không phải nộp thuế cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất.

Người nộp thuế phải lập và gửi “Bảng phân bổ thuế GTGT cho địa phương nơi đóng trụ sở chính và cho các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc không thực hiện hạch toán kế toán” theo mẫu số 01-6/GTGT ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính cùng với hồ sơ khai thuế tới cơ quan thuế quản lý trực tiếp, đồng thời gửi một bản Bảng phân bổ mẫu số 01-6/GTGT nêu trên tới các cơ quan thuế quản lý trực tiếp cơ sở sản xuất trực thuộc.

Căn cứ số thuế giá trị gia tăng được phân bổ giữa địa phương nơi đóng trụ sở chính của người nộp thuế và các địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc trên Bảng phân bổ theo mẫu số 01-6/GTGT nêu trên, người nộp thuế lập chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng cho địa phương nơi có trụ sở chính và từng địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc. Trên chứng từ nộp thuế phải ghi rõ nộp vào tài khoản thu ngân sách nhà nước tại Kho bạc nhà nước đồng cấp với cơ quan thuế nơi trụ sở chính đăng ký kê khai thuế và địa phương nơi có cơ sở sản xuất trực thuộc.

Cân nhắc bổ sung đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng


Nhiều ý kiến đề nghị cân nhắc việc bổ sung vào đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng đối với sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường được bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã bởi nếu doanh nghiệp không được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, từ đó làm tăng giá thành sản phẩm, gây khó khăn cho doanh nghiệp và tăng giá thành hàng hóa là đầu vào của sản xuất nông nghiệp.
thue-gia-tri-gia-tang

Trả lời vấn đề này, đại diện Vụ chính sách thuế, Bộ Tài chính cho biếtTheo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật thuế GTGT thì: sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu không chịu thuế GTGT. Theo khoản 2 Điều 8 Luật thuế GTGT, nếu những sản phẩm này được bán ở khâu thương mại phải chịu thuế GTGT với mức thuế suất 5%.

Để khuyến khích phát triển sản xuất, kinh doanh đối với mặt hàng nông sản, thủy sản cần điều chỉnh chính sách thuế GTGT đối với hoạt động này, theo hướng chuyển từ mức thuế suất 5% sang thuộc đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Đồng thời hạn chế việc doanh nghiệp lợi dụng quy định trên mua nông sản của nông dân (không chịu thuế GTGT) sau đó mua hóa đơn có thuế 5% để hợp thức đầu vào, lòng vòng qua nhiều khâu thương mại trung gian trước khi bán cho cơ sở xuất khẩu để cơ sở này được hoàn thuế. Nhằm vừa khuyến khích sản xuất kinh doanh, vừa khắc phục tình trạng gian lận này, các hiệp hội, các doanh nghiệp xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đã kiến nghị quy định không chịu thuế GTGT đối với hàng hóa là nông, lâm, thủy sản ở khâu kinh doanh thương mại.

Đại diện Vụ chính sách thuế cho biết, thực tế, nhiều doanh nghiệp lợi dụng mua nông sản của nông dân (không chịu thuế GTGT) sau đó mua hóa đơn có thuế 5% để hợp thức đầu vào, lòng vòng qua nhiều khâu thương mại trung gian trước khi bán cho cơ sở xuất khẩu để cơ sở này được hoàn thuế. Nhằm khắc phục tình trạng gian lận này, trong phạm vi nội dung Quốc hội cho phép, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 trong đó quy định cơ sở kinh doanh không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT đầu ra ở khâu kinh doanh thương mại đối với sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản chưa chế biến thành các sản phẩm khác.

Việc thực hiện quy định này trên thực tế trong thời gian qua đã phát huy hiệu quả ngăn chặn kịp thời tình trạng gian lận trong khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào. Để bảo đảm minh bạch và nâng cao cơ sở pháp lý, tiếp thu ý kiến trên, Bộ Tài chính đề nghị nâng quy định tại Nghị định 209/2013/NĐ-CP lên Luật, theo đó, sửa đổi quy định khoản 1 Điều 5 Luật thuế GTGT như sau: “Sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, thuỷ sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu. Trường hợp các sản phẩm này bán bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT”.