Chữ Ký Số FPT – Hotline: 0932 780 176

Home » Posts tagged 'đăng ký thuế'

Tag Archives: đăng ký thuế

Niêm yết công khai 6 nhóm thủ tục hành chính thuế Ngày 24/12/2015


Sáu nhóm thủ tục hành chính thuế được niêm yết công khai gồm: đăng ký thuế; khai thuế TNCN; khai thuế GTGT, TNDN và Khai các loại thuế khác; hoàn thuế, miễn giảm thuế; hoá đơn, biên lai; thủ tục hành chính khác.
6-nhom-thu-tuc-hanh-chinh-thue

Tổng cục Thuế vừa hướng dẫn cơ quan thuế các địa phương niêm yết thủ tục hành chính thuế và niêm yết nội dung, địa chỉ phản ánh kiến nghị về quy định hành chính dưới dạng tủ, theo mô hình của Cục Thuế Thanh Hóa đã thực hiện.

Theo Tổng cục Thuế, việc niêm yết thủ tục hành chính dưới dạng tủ là cách làm phù hợp, tạo thuận lợi cho cơ quan thuế trong việc thực hiện quy định về niêm yết và người nộp thuế trong việc tra cứu, tìm hiểu về thủ tục hành chính, do đó cần thiết phải nhân rộng điển hình trên.

Cụ thể theo hướng dẫn của Tổng cục Thuế, cơ quan thuế bố trí một tủ để niêm yết và đặt tại nơi tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính (Bộ phận một cửa). Tùy điều kiện về cơ sở vật chất của từng địa phương, cơ quan thuế bố trí tủ niêm yết với kích thước sao cho phù hợp.

Số lượng thủ tục hành chính niêm yết được chia thành 06 nhóm: Đăng ký thuế; Khai thuế TNCN; Khai thuế GTGT, TNDN và Khai các loại thuế khác; Hoàn thuế, miễn giảm thuế; Hoá đơn, biên lai; thủ tục hành chính khác.

Các nhóm thủ tục hành chính nêu trên được dán tên ngoài mặt kính của tủ. Bên trong mỗi ô tủ đặt cặp niêm yết, trong đó bên trái dán Danh mục các thủ tục hành chính niêm yết tại cặp; bên phải kẹp các thủ tục hành chính niêm yết, đánh số thứ tự tương ứng với số thứ tự tại Danh mục.

Mỗi thủ tục hành chính được niêm yết đầy đủ nội dung, kèm theo mẫu đơn, mẫu Tờ khai (nếu có) và được kẹp riêng từng thủ tục hành chính. Mỗi thủ tục hành chính được đánh số thứ tự tại góc trên, bên trái.

Tại nơi niêm yết, cơ quan thuế cần bố trí bàn, ghế để tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế tra cứu, tìm hiểu thủ tục hành chính./.

Phải thông báo văn bản cho cơ quan thuế trước khi tạm ngừng kinh doanh


Cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc vừa có thông báo không chấp nhận việc tạm ngừng kinh doanh của CN Chấn Hưng- Công ty CP Lương thực & Thương mại Vĩnh Phúc.
thong-bao-van-ban-cho-co-quan-thue-truoc-khi-ngung-kinh-doanh

Theo Quy định tại Điều 19 Thông tư số 80/2012/TT-BTC ngày 22/5/2012 của Bộ Tài chính hướng dẫn Luật Quản lý thuế về đăng ký thuế thì Tổ chức, cá nhân tạm ngừng kinh doanh phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý chậm nhất là 05 (năm) ngày trước khi tạm ngừng kinh doanh. Nội dung thông báo phải ghi rõ thời gian bắt đầu và kết thúc tạm ngừng kinh doanh, lý do tạm ngừng kinh doanh.

Thời hạn tạm ngừng kinh doanh ghi trong thông báo không được quá 01 (một) năm. Sau khi hết thời hạn ghi trên thông báo, nếu tổ chức, cá nhân vẫn tiếp tục tạm ngừng kinh doanh thì phải gửi thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh hoặc cơ quan thuế chậm nhất là 05 (năm) ngày trước ngày tạm ngừng tiếp theo, tổng thời gian tạm ngừng kinh doanh liên tiếp không được quá 02 (hai) năm theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Trước khi tạm ngừng kinh doanh, tổ chức, cá nhân phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế còn nợ với ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên theo Cục thuế Vĩnh Phúc, Công ty trên có đơn xin tạm ngừng kinh doanh trái quy định tại Điều 19 Thông tư số 80/2012/TT-BTC. Mặc dù Công ty xin tạm nghỉ từ 1/4/2015 đến ngày 1/4/2016 nhưng đến ngày 20/8/2015 mới gửi Công văn tới Cơ quan thuế.

Hơn nữa Công ty chưa chấp hành thực hiện nghĩa vụ kê khai thuế theo quy định, chưa nộp hồ sơ khai thuế từ Quý II/2015 đến nay.

Vì vậy, Cục thuế Vĩnh Phúc không chấp nhận việc tạm ngừng kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời, yêu cầu CN Chấn Hưng- Công ty CP Lương thực & Thương mại Vĩnh Phúc tiếp tục thực hiện nộp hồ sơ khai thuế từ kỳ tính thuế quý II/2015 đến nay.

Mở rộng diện giao dịch điện tử, tạo thuận lợi cho người nộp thuế


Bên cạnh việc giải quyết các bất cập, vướng mắc đang tồn tại thì việc cung cấp các căn cứ pháp lý để mở rộng diện giao dịch điện tử, thúc đẩy cải cách hành chính thuế, tạo thuận lợi cho người nộp thuế được xem là mục tiêu quan trọng nhất khi Bộ Tài chính ban hành Thông tư 110/2015/TT-BTC ngày 28/7/2015, có hiệu lực kể từ ngày 10/9/2015 (TT 110). Tìm hiểu cụ thể hơn về những quy định mới của văn bản này, Phóng viên đã có cuộc trao đổi với bà Lê Thị Duyên Hải – Vụ trưởng Vụ Kê khai và kế toán thuế của Tổng cục Thuế – đầu mối giúp Bộ Tài chính xây dựng và hoàn thiện TT 110.
mo-rong-giao-dich-dien-tu

Thưa bà, việc giao dịch điện tử về thuế đã dần trở nên phổ biến trong cộng đồng DN; trước đây cũng đã có nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện việc này, vậy tại sao mới đây Bộ Tài chính lại lại ban hành thêm một văn bản là Thông tư 110 về triển khai giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế?

Đúng là từ năm 2010, việc thực hiện khai thuế, nộp thuế điện tử đã được Bộ Tài chính hướng dẫn tại Thông tư số 180/2010/TT-BTC ngày 10/11/2010; đến năm 2013 tiếp tục hướng dẫn bổ sung bằng Thông tư số 35/2013/TT-BTC ngày 1/4/2013. Các cơ sở pháp lý được ban hành kịp thời này đã tạo nền tảng quan trọng để cùng với nỗ lực hướng dẫn, hỗ trợ, đôn đốc của cơ quan thuế các cấp, đến nay cả nước đã có 98% DN khai thuế qua mạng Internet và hơn 400 ngàn DN đăng ký nộp thuế điện tử, góp phần tích cực cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia theo mục tiêu đã được nêu tại Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ.

Tuy nhiên trước yêu cầu quản lý ngày càng tăng cao; số lượng các tổ chức, cá nhân thực hiện khai, nộp thuế điện tử ngày càng lớn với diện giao dịch ngày càng mở rộng đòi hỏi cơ sở pháp lý thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế cũng phải sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện để đảm bảo bao quát hết mọi tình huống phát sinh trong thực tế, nhất là đối với các vướng mắc liên quan đến điều kiện hạ tầng kỹ thuật, liên quan đến đòi hỏi chính đáng của người nộp thuế, cả việc phân định trách nhiệm của cơ quan thuế và người nộp thuế khi xảy ra sự cố…. Quan trọng nhất là để thực hiện được mục tiêu tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế trong các lĩnh vực hoàn thuế, thanh tra và giải quyết khiếu nại về thuế mà Chính phủ giao trong năm 2015, ngoài việc đảm bảo giải quyết thủ tục hành chính thuế đúng quy định, đúng thời hạn, ngành thuế phải thực hiện cung cấp các dịch vụ thuế điện tử ở cấp độ 4 cho người nộp thuế, tương ứng phải công khai quá trình giải quyết, kết quả giải quyết hồ sơ, thủ tục của người nộp thuế qua Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế để người dân và DN biết, giám sát, đảm bảo công khai, minh bạch. Do đó, Bộ Tài chính đã ban hành TT 110 có hiệu lực từ 10/9/2015 đã bổ sung các căn cứ pháp lý quan trọng để ngành thuế khắc phục các hạn chế đang tồn tại về giao dịch điện tử, đồng thời thực hiện thành công các mục tiêu cải cách theo Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính Phủ.

Xin bà cho biết đâu là những điểm khác biệt tạo nên những ưu thế nổi trội của Thông tư 110 so với các văn bản hướng dẫn về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế trước đó?

Điểm khác biệt quan trọng nhất của TT 110 so với các Thông tư trước đó chính là quan điểm “hành chính thuế điện tử” xuyên suốt toàn bộ nội dung Thông tư. Nếu như trước đây, việc cung cấp các dịch vụ thuế điện tử cho người nộp thuế (khai điện thuế tử, nộp thuế điện tử) có tính hỗ trợ và mới chỉ thực hiện ở một số bước tiếp nhận hồ sơ thì nay với Thông tư 110, việc thực hiện thủ tục hành chính thuế bằng phương thức điện tử giữa người nộp thuế và cơ quan thuế có tính toàn diện và tính pháp lý cao. Cụ thể, nội dung TT 110 có 5 điểm mới:

Thứ nhất, bổ sung các thủ tục hành chính thuế điện tử theo quy định của Luật Quản lý thuế gồm: đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế và tiếp nhận các hồ sơ, văn bản khác của người nộp thuế gửi đến cơ quan thuế bằng phương thức điện tử, theo đó người nộp thuế chỉ phải đăng ký một lần với cơ quan thuế để thực hiện đầy đủ các giao dịch điện tử với cơ quan thuế.

Thứ hai, bổ sung việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế bằng phương thức điện tử bao gồm: tra cứu thông tin của người nộp thuế, gửi các thông báo của cơ quan thuế đối với người nộp thuế, đồng thời, quy định các cơ quan nhà nước đã kết nối, trao đổi, truyền, nhận thông tin với cơ quan thuế bằng phương thức điện tử phải sử dụng chứng từ điện tử do cơ quan thuế cung cấp để giải quyết các thủ tục hành chính cho người nộp thuế, không được yêu cầu người nộp thuế nộp chứng từ giấy.

Thứ ba, bổ sung quy định về chữ ký số, mã xác thực giao dịch điện tử trong trường hợp chưa được cấp chứng thư số.

Thứ tư, sửa đổi những quy định về xử lý sự cố trong giao dịch điện tử, theo đó người nộp thuế không bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chậm nộp hồ sơ thuế điện tử, được miễn tiền chậm nộp cho khoản nộp có hạn nộp nằm trong khoảng thời gian hệ thống có sự cố theo thông báo của Tổng cục Thuế. Việc miễn tiền chậm nộp được hệ thống quản lý thuế của Tổng cục Thuế thực hiện. Tổng cục Thuế có trách nhiệm thông báo trên Trang thông tin điện tử (www.gdt.gov.vn) cho người nộp thuế biết về sự cố của hệ thống hạ tầng kỹ thuật, thời gian hệ thống tiếp tục vận hành.

Thứ năm, thủ tục cấp Giấy công nhận tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN được chuyển thành: tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN là tổ chức hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin được Tổng cục Thuế ký thỏa thuận cung cấp dịch vụ giá trị gia tăng về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế.

Ngoài ra, theo tinh thần cải cách thủ tục hành chính, Thông tư 110 đã sửa đổi các mẫu biểu, thông báo giao dịch trên Trang thông tin điện tử của Tổng cục Thuế đảm bảo phù hợp với những nội dung mới sửa đổi, bổ sung của Thông tư theo nguyên tắc đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện.

Từ ý chí đến hành động bao giờ cũng có khoảng cách trong khi thời hạn hoàn thành các mục tiêu về cải cách thủ tục hành chính thuế trong năm 2015 đang rất gần, nhất là đến 30/9 ngành thuế phải đảm bảo có 90% các DN trong diện quản lý thực hiện nộp thuế điện tử. Vậy ngành thuế đã có giải pháp gì để nhanh chóng đưa TT 110 vào thực tế, trở thành công cụ thúc đẩy việc thực hiện các mục tiêu đề ra?

Hiện Tổng cục Thuế đang tập trung nâng cấp Trang thông tin điện tử để trong thời gian tới tiếp nhận đầy đủ các hồ sơ khai thuế bằng phương thức điện tử, tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế, hoàn thuế điện tử, tích hợp với Hệ thống quản lý thuế tập trung để gửi các thông báo cho người nộp thuế bằng phương thức điện tử. Bên cạnh đó, Tổng cục Thuế cũng tích cực mở rộng phối hợp thu với 42 ngân hàng trong nước và ngoài nước đã ký thỏa thuận nộp thuế điện tử với Tổng cục Thuế và thêm một số ngân hàng nữa sẽ ký kết trong thời gian tới.

Đồng thời, Tổng cục Thuế đang triển khai nhiều Quy chế trao đổi thông tin và phối hợp công tác với các cơ quan có liên quan để thực hiện liên thông trong việc tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính cho người nộp thuế bằng phương thức điện tử. Cùng với đăng ký DN, đăng ký thuế điện tử với cơ quan đăng ký kinh doanh, tới đây ngành thuế tiếp tục triển khai kết nối với các cơ quan khác như: tài nguyên môi trường, công an… để thực hiện các thủ tục hành chính bằng phương thức điện tử trong thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nộp lệ phí trước bạ và đăng ký ô tô, xe máy…

Tôi cho rằng, khi TT 110 được triển khai thực hiện, người nộp thuế sẽ được hưởng nhiều lợi ích từ các giao dịch điện tử về thuế, trong khi cơ quan thuế hoạt động chuyên nghiệp, hiệu quả hơn, tiết kiệm chi phí thời gian, tiền bạc và nguồn nhân lực cho cả người nộp thuế, cơ quan thuế và toàn xã hội, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam, đúng như mục tiêu của Nghị quyết 19/NQ-CP của Chính phủ đã đề ra.

Xin cám ơn bà/.

Đánh giá Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015


Thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 732/2011/QĐ-TTg ngày 17/5/2011 Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015 kèm theo Quyết định số 2162/QĐ-BTC ngày 8/9/2011. Để đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu cũng như nội dung đã đề ra trong Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015, ngày 15/4/2015, Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 764/QĐ-BTC phê duyệt Đề án “Đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015” ban hành kèm theo Quyết định 2162/QĐ-BTC ngày 08/09/2011.

ab4bc4f61cef4f337998cf98257c7f92

Kết quả của Đề án “Đánh giá kết quả thực hiện Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015” sẽ tập trung đánh giá: Về mức độ thực tế đạt được của các mục tiêu của Chiến lược trên cấp độ vận hành và hoạt động của cơ quan thuế, tác động đến tính tuân thủ tự nguyện và mức độ hài lòng của người nộp thuế; Về những chuyển biến so với thời điểm bắt đầu thực hiện kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015, sự tiến bộ của ngành thuế và những cản trở, hạn chế so với mục tiêu; Phân tích kết quả các mục tiêu đạt được, chưa đạt được, nguyên nhân, kinh nghiệm rút ra trong quá trình thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015, làm bài học cho việc đề xuất giải pháp nhằm thực hiện thành công mục tiêu đã đề ra trong Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020. Đồng thời, thực hiện khảo sát, tìm hiểu những mong muốn cải cách của cán bộ thuế, người nộp thuế đối với ngành thuế trong thời gian tới.

Việc đánh giá công tác cải cách hệ thống thuế dựa trên cơ sở kết quả triển khai và thực hiện các nội dung công việc theo Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015 phải nêu bật được những kết quả đã đạt được, chưa đạt được, những tồn tại, khó khăn, ảnh hưởng, tác động từ cả các nguyên nhân khách quan đến nguyên nhân chủ quan. Đồng thời, kết quả đánh giá cần cung cấp một cái nhìn tổng quan về thực trạng quản lý thuế của từng Cục Thuế. Cụ thể đề án thực hiện đánh giá các nội dung như:

Về cải cách hệ thống chính sách thuế: Đánh giá tính phù hợp của hệ thống chính sách thuế, phí và lệ phí đặc biệt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay; Tính minh bạch, rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện của hệ thống thuế và từng sắc thuế…

Về thể chế quản lý thuế: Đánh giá kết quả xây dựng thể chế quản lý thuế so với lộ trình và mục tiêu đã đề ra; Kết quả công tác đơn giản hoá thủ tục hành chính thuế; Kết quả chuẩn hoá các quy trình quản lý thuế được chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế và điều kiện Việt Nam trên cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin đảm bảo thống nhất, có tính liên kết cao.

Về tổ chức bộ máy và phát triển nguồn nhân lực: Đánh giá kết quả công tác nghiên cứu xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý thuế theo mô hình quản lý thuế kết hợp giữa quản lý thuế theo chức năng với quản lý thuế theo đối tượng; Kết quả đổi mới và nâng cao chất lượng nguồn công chức tuyển dụng.

Về công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT: đánh giá kết quả nghiên cứu phương thức phân loại người nộp thuế để áp dụng các hình thức tuyên truyền, hỗ trợ thực thi pháp luật thuế phù hợp với từng nhóm NNT; Kết quả xây dựng, triển khai các phương pháp, hình thức tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế.

Về công tác thanh tra, kiểm tra NNT: Đánh giá kết quả xây dựng và hoàn thiện quy chế, quy trình nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra toàn ngành Thuế trên cơ sở áp dụng phương pháp quản lý rủi ro; Kết quả xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp với các ngành có liên quan trong công tác thanh tra, kiểm tra thuế; Kết quả đổi mới hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế theo hướng thống nhất, hiện đại, chính quy, chuyên nghiệp và hiệu quả.

Về đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế và kế toán thuế: Đánh giá chính sách và các quy định liên quan đến công tác đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và hoàn thuế; Kết quả đơn giản hoá thủ tục hành chính liên quan đến công tác đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế; Kết quả việc thực hiện chế độ kế toán thuế nội địa.

Về công tác thu nợ và cưỡng chế nợ thuế: Đánh giá Kết quả nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện chính sách và các quy định liên quan đến công tác quản lý nợ thuế và cưỡng chế nợ thuế; Kết quả phát triển hệ thống công nghệ thông tin, hạ tầng kỹ thuật tiên tiến phục vụ công tác quản lý nợ thuế.

Về phát triển hệ thống công nghệ thông tin và hiện đại hoá hạ tầng kỹ thuật: Đánh giá kết quả xây dựng, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị công nghệ thông tin; Kết quả xây dựng và triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin theo yêu cầu quản lý thuế mang tính liên kết, tự động hoá cao, gắn chặt với quá trình cải cách thủ tục hành chính thuế và áp dụng thuế điện tử; Kết quả xây dựng và triển khai các ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nội bộ ngành Thuế.

Về hiện đại hoá cơ sở vật chất ngành thuế: Đánh giá kết quả quy hoạch hệ thống công sở toàn ngành đối với cấp Cục Thuế và Chi cục Thuế so với yêu cầu về điều kiện làm việc thuận lợi, lâu dài cho cán bộ công chức ngành thuế nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn cả nước; Kết quả xây dựng, triển khai hiệu quả việc thực hiện cơ chế quản lý tài chính, biên chế gắn với nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước và lộ trình thực hiện các giải pháp chiến lược cải cách hệ thống thuế.
Về phát triển Trường nghiệp vụ thuế: Đánh giá kết quả xây dựng và áp dụng các chương trình, giáo trình vào đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thuế toàn ngành; kết quả xây dựng và thực hiện cơ chế tài chính theo yêu cầu mục tiêu, nhiệm vụ đào tạo bồi dưỡng.

Việc đánh giá kết quả thực hiện các mục tiêu cũng như nội dung đã đề ra trong Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2015 là hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là cơ hội để ngành Tài chính nói chung và cơ quan thuế nói riêng nhìn nhận các kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân làm tiền đề xây dựng Kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2016-2020./.