Chữ Ký Số FPT – Hotline: 0932 780 176

Home » Hóa đơn điện tử

Category Archives: Hóa đơn điện tử

HỖ TRỢ KHÁCH HÀNG

0915 412 332 - 0932 780 176

TỔNG ĐÀI: 0915 412 332 - HOTLINE: 0932 780 176

Advertisements

Chuyển sang hóa đơn điện tử: Khó ‘có cửa’ cho hóa đơn bất hợp pháp


Nhằm tạo thuận lợi, giảm thời gian, chi phí thực hiện hoá đơn cho doanh nghiệp (DN), người nộp thuế, vừa chống thất thu ngân sách, chống gian lận trong thanh toán từ ngân sách nhà nước (NSNN).

Bộ Tài chính đã xây dựng và đang lấy ý kiến đóng góp vào dự thảo nghị định về hóa đơn (sửa đổi) trước khi trình Chính phủ xem xét ban hành, thay thế Nghị định số 51/2010/NĐ-CP (NĐ 51) và Nghị định số 04/2014/NĐ-CP (NĐ 04).

Các bài viết liên quan:

“Đột phá” từ hóa đơn giấy sang hóa đơn điện tử

Sau gần 7 năm thực hiện NĐ 51 về hoá đơn và các văn bản hướng dẫn, đã chuyển đổi phương thức phát hành, quản lý hóa đơn của DN từ cơ chế “mua hóa đơn của cơ quan thuế” sang cơ chế “DN tự đặt in, tự in hóa đơn” để sử dụng; chuyển đổi phương thức quản lý hóa đơn (giấy) của cơ quan thuế bằng việc phân quyền cho cục thuế các địa phương được đặt in hóa đơn bán cho các tổ chức, cá nhân không phải là DN nhưng có hoạt động kinh doanh. “Quy định tại NĐ 51 cũng tạo ra sự đổi mới trong việc trao quyền tự chủ về hóa đơn cho các DN, góp phần cải cách thủ tục hành chính, nâng cao trách nhiệm của cơ quan thuế địa phương trong công tác quản lý hóa đơn”, Bộ Tài chính nhấn mạnh.

Việc bổ sung hình thức hóa đơn điện tử (HĐĐT) như quy định tại NĐ 51 đã có ý nghĩa quan trọng, tạo cơ sở pháp lý để các DN hiện đại hóa công tác quản trị DN phù hợp với sự phát triển của xã hội hiện đại. Đồng thời, hạn chế được một phần tình trạng hộ kinh doanh, DN đặt in, tự in hóa đơn để xuất hóa đơn khống, mua bán lòng vòng, sử dụng bất hợp pháp, gây thất thu NSNN, gian lận thương mại, ảnh hưởng đến nền kinh tế.

Đáng chú ý, tổng kết thực tế từ khi triển khai áp dụng HĐĐT do các DN lựa chọn theo Thông tư 32/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính đến nay cho thấy, áp dụng HĐĐT được các DN đánh giá là mang lại kết quả tốt, được khách hàng chấp thuận; mang lại hiệu quả thiết thực về thời gian và tiết kiệm chi phí cho DN; góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh, chất lượng dịch vụ và tăng khả năng cạnh tranh của DN.

Sử dụng HĐĐT cũng giúp khách hàng thuận tiện trong thanh toán, tránh rủi ro mất hóa đơn và tiết kiệm được chi phí do không phải in ra giấy. Trong đó, việc thí điểm sử dụng HĐĐT có mã xác thực của cơ quan thuế vừa góp phần giảm thời gian, chi phí về hóa đơn cho DN, vừa góp phần hạn chế các hành vi gian lận về hóa đơn.

Điều đó được minh chứng bằng kết quả tổng kết cho thấy, số lượng DN sử dụng hóa đơn tự in, hóa đơn đặt in mang tính ổn định qua các năm, nhưng số lượng DN sử dụng HĐĐT tăng dần qua các năm. Cụ thể: Năm 2011 mới chỉ có 30 DN sử dụng HĐĐT thì đến năm 2015, con số này đã là 331 và năm 2016 là 656 DN. Theo đó, số lượng HĐĐT DN sử dụng cũng tăng qua các năm; nếu năm 2011 số lượng HĐĐT sử dụng mới chỉ là 9.014 hóa đơn thì năm 2016, đã tăng lên hơn 277 triệu hóa đơn.

Tiến tới áp dụng rộng rãi HĐĐT

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, qua thực tế triển khai cho thấy NĐ 51, 04 và các văn bản hướng dẫn đã bộc lộ những hạn chế, bất cập. Đáng chú ý trong số đó là quy định về in, phát hành, sử dụng hóa đơn của NĐ 51 áp dụng đối với hóa đơn giấy đã không còn phù hợp với bối cảnh triển khai thủ tục hành chính điện tử theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP và Chỉ thị số 26/CT-TTg.

NĐ 51 cũng chưa tạo điều kiện pháp lý đầy đủ cho việc triển khai rộng rãi, phổ biến áp dụng HĐĐT trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử, cách mạng công nghiệp lần thứ 4, thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế đã có sự chuyển biến rõ rệt so với các năm trước.

Với việc sử dụng hóa đơn giấy phổ biến (đặt in, tự in hóa đơn giấy, không có sự kết nối dữ liệu về hóa đơn với cơ quan thuế), một số đối tượng lợi dụng sự thông thoáng để thành lập nhiều DN, hoặc mua lại DN, thực tế không kinh doanh nhưng được sử dụng hóa đơn, xuất hóa đơn khống, sử dụng hóa đơn lòng vòng để khấu trừ, hoàn khống thuế giá trị gia tăng hoặc rút tiền thanh toán từ NSNN, hoặc không kê khai nộp thuế để trốn thuế… Để khắc phục những tồn tại, hạn chế về quản lý, sử dụng hóa đơn như hiện nay, theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính cho biết đã dự thảo nghị định về hóa đơn (sửa đổi), thay thế hai nghị định trên.

Dự thảo nghị định mới, ngoài việc khắc phục những bất cập tại NĐ 51, còn đáp ứng yêu cầu của cải cách hành chính, cải cách thủ tục quản lý thuế, phòng chống việc sử dụng hóa đơn bất hợp pháp hoặc sử dụng bất hợp pháp hóa đơn để gian lận, trốn thuế… Quan trọng hơn, dự thảo nghị định mới về hóa đơn tạo hành lang pháp lý cho việc áp dụng rộng rãi phổ biến HĐĐT, đáp ứng triển khai thủ tục hành chính điện tử theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP và Chỉ thị số 26/CT-TTg của Chính phủ, với nội dung cơ bản thực hiện hoá đơn, chứng từ điện tử trong năm 2018 đối với toàn nền kinh tế.

Advertisements

Hóa đơn điện tử của doanh nghiệp phải đảm bảo toàn vẹn thông tin


Bộ Tài chính đang dự thảo Nghị định quy định về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trong đó có đề xuất nhiều nội dung về hóa đơn điện tử của doanh nghiệp.

Các bài viết liên quan:

Dự thảo nêu rõ, doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh đã áp dụng Hóa đơn điện tử của doanh nghiệp trước ngày 01/01/2018 theo hướng dẫn của Bộ Tài chính tiếp tục áp dụng hóa đơn điện tử của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh đang thực hiện giao dịch điện tử trong khai thuế với cơ quan thuế, hoặc là tổ chức kinh tế có sử dụng giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng có: chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật; phần mềm bán hàng hoá, dịch vụ kết nối với phần mềm kế toán, đảm bảo dữ liệu của hoá đơn điện tử bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tự động chuyển vào phần mềm (hoặc cơ sở dữ liệu) kế toán tại thời điểm lập hoá đơn thì sử dụng hóa đơn điện tử của doanh nghiệp trong hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Doanh nghiệp, tổ chức kinh doanh có mã số thuế đang sử dụng hóa đơn giấy in từ hệ thống máy tính trước ngày 01/01/2018 nếu có đủ điều kiện quy định thì sử dụng hóa đơn điện tử của doanh nghiệp từ ngày 01/01/2018 trong hoạt động bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

Dự thảo cũng quy định rõ về điều kiện đối với hóa đơn điện tử của doanh nghiệp. Theo đó, hóa đơn điện tử của doanh nghiệp phải thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau: Có sự đảm bảo đủ tin cậy về tính toàn vẹn của thông tin chứa trong hóa đơn điện tử từ khi thông tin được tạo ra ở dạng cuối cùng là hóa đơn điện tử.

Tiêu chí đánh giá tính toàn vẹn là thông tin còn đầy đủ và chưa bị thay đổi, ngoài những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình trao đổi, lưu trữ hoặc hiển thị hóa đơn điện tử.

Đồng thời thông tin chứa trong hóa đơn điện tử có thể truy cập, sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết.

Người bán hàng hóa được chuyển đổi hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy để chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hoá hữu hình trong quá trình lưu thông và chỉ được chuyển đổi 01 lần. Hóa đơn điện tử chuyển đổi sang hóa đơn giấy để chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa phải đáp ứng các quy định và phải có chữ ký người đại diện theo pháp luật của người bán, dấu của người bán.

Người mua, người bán được chuyển đổi hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy để phục vụ việc lưu trữ chứng từ kế toán theo quy định của Luật Kế toán. Hóa đơn điện tử chuyển đổi sang hóa đơn giấy phục vụ lưu trữ chứng từ kế toán phải đáp ứng các quy định cụ thể.

Bộ Tài chính đang lấy ý kiến góp ý của nhân dân đối với dự thảo này tại Cổng Thông tin điện tử của Bộ.

Lợi ích thiết thực từ hóa đơn điện tử


Việc sử dụng hóa đơn điện tử đã và đang mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp (DN) như tiết kiệm chi phí, thời gian; dễ dàng quản lý; đảm bảo tính minh mạch…, khiến DN đang rất hào hứng triển khai thực hiện. Dưới đây là ghi nhận của phóng viên TBTCVN về vấn đề này qua trao đổi với đại diện một số DN.

Các bài viết liên quan:

ử dụng hóa đơn điện tử mang lại rất nhiều lợi ích cho DN. Sử dụng hóa đơn điện tử sẽ giúp các nhà quản lý, điều hành DN kiểm soát tốt hơn quá trình phát hành, lưu trữ và sử dụng hóa đơn.

Bên cạnh đó, với phần mềm hóa đơn điện tử xác thực, DN chỉ cần thực hiện những thao tác đơn giản là tạo, lập hóa đơn ngay trên máy tính sau đó gửi trực tiếp cho khách hàng qua mạng internet. Với các mã số xác thực có trên mỗi hóa đơn, cơ quan thuế cũng dễ dàng tra cứu được tình trạng sử dụng hóa đơn của DN để thanh kiểm tra chặt chẽ hơn.

Thêm vào đó, trong nhiều năm qua, việc dùng hóa đơn giấy đã gây ra nhiều rắc rối, sai sót, rườm rà. Khi sử dụng hóa đơn điện tử, chúng tôi thấy có thể tránh được nhiều sai sót, nhất là việc làm giả hóa đơn, giúp tăng tính minh bạch của DN, giảm thiểu tình trạng mua bán hóa đơn trôi nổi trên thị trường.

Hơn thế nữa, đa số DN Việt là DN nhỏ và vừa, nguồn vốn đầu tư cho sản xuất – kinh doanh hạn hẹp. Do đó, việc tiết kiệm chi phí luôn là bài toán khó được đặt ra trước mắt. Rõ ràng, hóa đơn điện tử giúp các DN tiết kiệm được thời gian, chi phí lưu trữ, bảo quản, vận chuyển và in ấn, phát hành – một khoản tính ra cũng không phải là nhỏ.

* Ông Nguyễn Văn Tình – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty TNHH Đất Việt:“Thông qua hóa đơn điện tử, DN có thể quảng bá thương hiệu”

Cùng với việc thực hiện Nghị quyết 19, Nghị quyết 35 của Chính phủ, thời gian qua, ngành Tài chính đã đầu tư nghiên cứu nhiều giải pháp nhằm tạo thuận lợi tối đa cho sự phát triển của cộng đồng DN. Nhìn từ thực tế cho thấy, kết quả đạt được, nhất là trong cải cách thuế đã và đang có sức lan tỏa rộng lớn, từ việc đầu tư xây dựng và vận hành tốt website, truyền thông về phương pháp khai, nộp thuế điện tử đến việc quán triệt về đạo đức, thái độ của công chức ngành trong thực hiện chuyên môn… Tất cả những nỗ lực ấy khiến cho việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế của DN không còn nặng nề. Quản lý thuế điện tử đã không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho DN và cơ quan thuế mà sâu xa còn mang lại nhiều lợi ích cho xã hội.

Qua thời gian sử dụng, chúng tôi thấy, hóa đơn điện tử là loại hình hóa đơn có tính bảo mật rất cao và tính minh bạch lớn. Hệ thống phần mềm hóa đơn điện tử vừa bảo đảm tính chính xác, chặt chẽ, vừa đơn giản lại vừa được bảo mật tuyệt đối. Đặc biệt, phần mềm hóa đơn điện tử cho phép DN có thể tạo mẫu hóa đơn và phát hành hóa đơn tại chỗ ngay trong ngày mà không cần phải đến cơ quan thuế. Trong khi đó, nhà quản lý DN vẫn dễ theo dõi chứng từ thanh toán, nhận giấy báo và truy nhập nhận hóa đơn nhanh chóng; khai báo và quyết toán thuế thuận tiện, truy lục hóa đơn, tránh thất thoát, cháy hỏng hóa đơn và bảo vệ môi trường…

Ngoài ra, DN còn có thể tự thiết kế mẫu hoá đơn, chủ động đưa hình ảnh thương hiệu của đơn vị mình lên hóa đơn để quảng bá về thương hiệu của mình.

* Ông Lê Thanh Thủy, Giám đốc Công ty TNHH Công nghiệp Trí Cường (Hà Nội):“Đáng đồng tiền, bát gạo”

Chúng ta đang tiến đến nền công nghiệp 4.0, mọi DN muốn thành công đều phải áp dụng công nghệ thông tin, tự động hóa để tăng năng suất và giảm chi phí. Theo xu hướng này, công ty chúng tôi cũng đã và đang cải tiến theo hướng tự động hóa, áp dụng công nghệ thông tin vào quản lý, quản trị. Đặc biệt chúng tôi đang dần dần áp dụng hóa đơn điện tử trong thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước. Cùng với sự phát triển như vũ bão của công nghệ số, việc áp dụng hóa đơn điện tử là tất yếu và phù hợp với các công nghệ tiên tiến đang được áp dụng trên thế giới như Mobile Banking, Internet Banking, SMS Banking…, giúp triển khai dễ dàng và thực hiện nhanh chóng, hiệu quả.

Cần chia sẻ thêm là, lúc đầu khi mới bắt tay vào triển khai sử dụng hóa đơn điện tử sẽ gặp phải những rắc rối, khó khăn nhất định. Tuy nhiên, khi đã sử dụng quen thì không chỉ hóa đơn điện tử mà cả các phần mềm quản lý, sẽ thấy được rất nhiều tiện ích, tiết kiệm được thời gian, chi phí và hướng DN đến một mô hình hoạt động hiện đại, năng động. Nói chung đầu tư sử dụng hóa đơn điện tử đem lại rất nhiều lợi ích “đáng đồng tiền, bát gạo”./.

Tố Uyên (thực hiện)

1875 doanh nghiệp đã sử dụng dịch vụ hoàn thuế điện tử


Đây là một trong những kết quả quan trọng được ghi nhận tại buổi họp giao ban của Tổng cục Thuế diễn ra ngày 8/6.

Các bài viết liên quan:

Tiến độ thu NS giảm

Theo đó, báo cáo của Tổng cục Thuế cho biết, trong tháng 5 tổng số thu NSNN do ngành thuế thực hiện ước đạt 66.965 tỷ đồng, bằng 6,9% dự toán, tăng 14,9%. Luỹ kế 5 tháng đầu năm, chưa tính phần thu từ bán cổ phần của Nhà nước tại các DN, ngành thuế thu NSNN được 398.400 tỷ đồng, bằng 41,1% dự toán, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu từ dầu thô ước đạt 18.900 tỷ đồng, bằng 49,3% dự toán, tăng 16% so với cùng kỳ; thu nội địa ước đạt 379.500 tỷ đồng, bằng 40,8% dự toán, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2016. Xét theo cơ cấu nguồn thu, ngành thuế ghi nhận 8/17 khoản thu, sắc thuế đạt khá so với dự toán cả năm (trên 43%) gồm: thuế TNCN 48%; tiền sử dụng đất 66%; tiền cho thuê mặt đất, mặt nước 79%; tiền bán nhà ước 125,2%; thu phí, lệ phí 51,3%; thu cấp quyền khai thác khoáng sản 55,4%; thu từ xổ số đạt 61,5%. Nếu so với cùng kỳ năm trước, có 11/17 khoản thu, sắc thuế có mức tăng trưởng thu, tiêu biểu là: thu từ khu vực DN có vốn ĐTNN tăng 7,1%; khu vực CTN-NQD tăng 12,9%; thuế TNCN tăng 24,5%; thu tiền cho thuê đất tăng 12,5%; thu cổ tức và lợi nhuận còn lại tăng 39,4%; thu phí, lệ phí gấp 2,62 lần…

Với diễn biến này, Tổng cục Thuế đánh giá, kết quả thu nội địa 5 tháng đầu năm nay nếu không kể các khoản thu liên quan đến đất đai, phí, lệ phí thì đạt thấp cả về tiến độ thu và tốc độ tăng trưởng so với cùng kỳ các năm gần đây (5 tháng/2016 đạt 41,6% số thu cả năm, tăng 12% so với cùng kỳ; năm 2015: đạt 41,3%, tăng 12,6%; năm 2014: đạt 44%, tăng 11,9%). Riêng thu ngân sách trung ương dù lũy kế 5 tháng đã đạt 173.570 tỷ đồng, bằng 35,7% so với dự toán, tăng 23,9% so với cùng kỳ, nhưng đây vẫn là năm có tiến độ thu chậm nhất trong 3 năm gần đây (năm 2016 đạt 35,9%, năm 2015 đạt 39,1%, năm 2014 đạt 43,6%), chậm hơn tiến độ tổng thu do cơ quan thuế quản lý (đạt 41,1% dự toán) và chậm hơn tiến độ thu ngân sách địa phương (ước đạt 224.830 tỷ đồng, bằng 46,6% dự toán). Chính vì vậy, để đảm bảo thực hiện tốt dự toán thu NSNN được giao, Tổng cục Thuế đã chủ động xây dựng các kịch bản thu phù hợp tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và biến động giá dầu thô để tập trung chỉ đạo và tổ chức triển khai trong toàn ngành.

Tăng tốc cải cách phục vụ DN

Trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2017, Tổng cục Thuế đã tích cực triển khai đồng bộ các nhóm công việc theo tiến độ tại Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 19-2017/NQ-CP. Theo đó, công tác cải cách thể chế đã ghi nhận nhiều kết quả khi Tổng cục Thuế đã xây dựng và trình Bộ Tài chính ký ban hành Thông tư số 41/2017/TT-BTC ngày 28/4/2017 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 20/2017/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với các DN có giao dịch liên kết; Thông tư số 44/2017/TT-BTC ngày 12/5/2017 quy định về khung giá tính thuế tài nguyên đối với nhóm, loại tài nguyên có tính chất lý hóa giống nhau; Thông tư số 51/2017/TT-BTC ngày 19/5/2017 sửa đổi, bổ sung Thông tư số 117/2012/TT-BTC về đại lý thuế; Quyết định số 942/QĐ-BTC ngày 24/5/2017 sửa đổi, bổ sung Danh mục Bảng giá tính lệ phí trước bạ ô tô, xe máy; Công văn gửi Văn phòng Chính phủ đề xuất các biện pháp quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử qua mạng. Chưa kể nhiều văn bản khác như: đề án sửa đổi các Luật thuế (GTGT, TNDN, TNCN, TTĐB, Tài nguyên); dự thảo Nghị định sửa Nghị định số 51/2010/NĐ-CP về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (phần hóa đơn điện tử); dự thảo Bộ tiêu chí và chỉ số phục vụ quản lý rủi ro; dự thảo Thông tư sửa Thông tư 156/2013/TT-BTC về kê khai thuế bảo vệ môi trường đối với đơn vị kinh doanh xăng dầu; dự thảo Thông tư hướng dẫn kế toán thuế nội địa; Thông tư sửa Thông tư số 110/2015/TT-BTC ngày 28/7/2015 về hướng dẫn giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế… đang được Tổng cục Thuế gấp rút hoàn thành để trình các cấp có thẩm quyền ban hành trong thời gian sớm nhất.

Theo sát tiến độ cải cách thể chế, công tác phát triển ứng dụng CNTT để cải cách thủ tục hành chính và hiện đại hoá quản lý thuế đã có thêm những kết quả mới. Đáng kể nhất là tính đến ngày 31/5/2017, cơ quan thuế đã đăng ký cho 1875 DN sử dụng dịch vụ hoàn thuế điện tử trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế. Trong đó đã giải quyết 492 hồ sơ đề nghị hoàn thuế GTGT với tổng số tiền thuế GTGT được hoàn là 3.188,6 tỷ đồng. Cũng tính đến hết ngày 20/5/2017, số lượng DN đã đăng ký tham gia sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử với cơ quan thuế là 580.211 DN, đạt tỷ lệ 98,90% tổng số DN đang hoạt động. Với 1.322.639 giao dịch nộp thuế điện tử, tổng số tiền đã nộp NSNN từ 1/1/2017 đến nay là 213.569 tỷ đồng. Bên cạnh đó, tiếp tục tổ chức hỗ trợ cho hơn 200 DN tại Hà Nội và TP HCM trong việc đăng ký và xuất hóa đơn điện tử có xác thực, cơ quan thuế đã xác thực được 4.082.249 hóa đơn với số tiền thuế đã được xác thực là hơn 2.028 tỷ đồng. Ngoài ra, việc triển khai dịch vụ nộp thuế đất đai, hộ cá nhân điện tử đã được thí điểm áp dụng đối với 4.211 tờ khai của Cục Thuế TP Hà Nội và Cục Thuế TP HCM và các chi cục thuế trực thuộc, tạo cơ sở cho việc đánh giá và lập kế hoạch, lộ trình triển khai rộng trên toàn quốc. Riêng với đề án triển khai dịch vụ nộp lệ phí trước bạ ô tô, xe máy điện tử, trong tháng 5, Tổng cục Thuế tiếp tục kiểm thử truyền nhận dữ liệu với Ngân hàng Agribank và Vietcombank, Cục Đăng kiểm và Cục Cảnh sát giao thông; đồng thời lập kế hoạch thống nhất các đơn vị để chuẩn bị thử nghiệm với một số đại lý xe.

Mặc dù nhận định, công tác phát triển ứng dụng CNTT đã đáp ứng yêu cầu Chính phủ điện tử và tạo điều kiện thuận lợi để đơn giản hoá thủ tục hành chính, giảm số giờ tuân thủ về thuế cho DN và người dân, tuy nhiên Tổng cục Thuế yêu cầu toàn ngành tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện các đề án để đảm bảo hoàn thành tốt theo lộ trình, kế hoạch đề ra./.

Một số hướng dẫn về Hóa đơn


Để tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện đúng chính sách pháp luật thuế nhất là trong lĩnh vực quản lý, sử dụng hoá đơn, Cục Thuế Thành phố Hà Nội rà soát, tổng hợp một số hướng dẫn về hoá đơn và thông tin để cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân, người nộp thuế, nhân dân quan tâm được biết, thực thi đúng các quy định của Pháp luật thuế.

Các bài viết liên quan:

Một số hướng dẫn về Hóa đơn

Một số hướng dẫn về Hóa đơn

1. Hướng dẫn thực hiện hóa đơn điện tử:

Tổng cục Thuế đã có công văn số 819/TCT-DNL và 820/TCT-DNL ngày 13/03/2017 hướng dẫn việc thực hiện hóa đơn điện tử. Theo đó,

– Về chữ ký người mua trên hóa đơn điện tử: trường hợp người mua không phải là đơn vị kế toán hoặc là đơn vị kế toán nếu có các hồ sơ, chứng từ chứng minh việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ giữa Công ty với người mua như: hợp đồng kinh tế, phiếu xuất kho, biên bản giao nhận hàng hóa, biên nhận thanh toán, phiếu thu, hồ sơ chứng từ khác thì Công ty lập hóa đơn điện tử cho người mua theo quy định, trên hóa đơn điện tử không nhất thiết phải có chữ ký điện tử của người mua.

– Về việc lập hóa đơn điện tử có số dòng nhiều hơn một trang: Trường hợp chuyển đổi hóa đơn điện tử ra giấy, nếu số lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra nhiều hơn số dòng của một trang hóa đơn thì Công ty thực hiện tương tự trường hợp sử dụng hóa đơn tự in mà việc lập và in hóa đơn thực hiện trực tiếp từ phần mềm và số lượng hàng hóa, dịch vụ bán ra nhiều hơn số dòng của một trang hóa đơn, cụ thể:

Công ty được thể hiện hóa đơn nhiều hơn một trang nếu trên phần đầu trang sau của hóa đơn có hiển thị: cùng số hóa đơn như của trang đầu (do hệ thống máy tính cấp tự động); cùng tên, địa chỉ, MST của người mua, người bán như trang đầu; cùng mẫu và ký hiệu hóa đơn như trang đầu; kèm theo ghi chú bằng tiếng Việt không dấu “tiep theo trang truoc – trang X/Y” (trong đó X là số thứ tự trang và Y là tổng số trang của hóa đơn đó).

2. Sử dụng hóa đơn điện tử đối với các dịch vụ tiện ích phục vụ khách hàng sử dụng dịch vụ thu phí tự động không dừng:

Tổng cục Thuế đã có công văn số 1231/TCT-DNL ngày 03/04/2017 hướng dẫn thực hiện hóa đơn điện tử (HĐĐT) đối với hoạt động thu phí tự động không dừng. Theo đó:

Theo báo cáo của các đơn vị vận hành dự án thu phí tự động không dừng có phát sinh các trường hợp:

– Trường hợp doanh nghiệp giao xe thuộc sở hữu của doanh nghiệp cho cá nhân trong doanh nghiệp quản lý và sử dụng để phục vụ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà cá nhân sử dụng xe đứng tên đăng ký tài khoản giao thông.

– Trường hợp doanh nghiệp thuê xe của cá nhân hoặc doanh nghiệp khác để sử dụng phục vụ hoạt động kinh doanh và trong thời gian thuê xe doanh nghiệp đi thuê phải thanh toán khoản phí khi qua các trạm thu phí tự động không dừng mà cá nhân hoặc doanh nghiệp chủ sở hữu xe đứng tên đăng ký tài khoản giao thông.

Đối với các trường hợp nêu trên, doanh nghiệp được sử dụng HĐĐT mà Đơn vị dịch vụ thu phí BOO đã xuất cho cá nhân, doanh nghiệp đứng tên chủ tài khoản giao thông của xe để hạch toán chi phí và kê khai thuế theo quy định, nếu doanh nghiệp có đầy đủ các tài liệu chứng minh việc uỷ quyền cho cá nhân sử dụng xe để phục vụ hoạt động kinh doanh, hoặc việc doanh nghiệp thuê xe của cá nhân hoặc doanh nghiệp khác để sử dụng cho hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính chính xác của số liệu kê khai.

3. Lập hóa đơn GTGT đối với quà tặng hội nghị khách hàng

Tổng cục Thuế đã có công văn số 1284/TCT-DNL ngày 05/4/2017 về xuất hóa đơn GTGT đối với quà tặng hội nghị khách hàng. Theo đó, trường hợp Công ty tổ chức hội nghị khách hàng và tặng quà lưu niệm cho khách, việc tổ chức hội nghị của Công ty có chương trình, kế hoạch và danh sách khách mời cụ thể thì khi kết thúc hội nghị, Công ty được lập một hóa đơn GTGT tổng giá trị quà tặng cho khách hàng, trên hóa đơn nêu rõ quà tặng hội nghị khách hàng.

Trên đây là một số nội dung hướng dẫn về thuế hoá đơn, Cục Thuế TP Hà Nội thông tin để cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân, người nộp thuế và nhân dân biết, thực hiện đúng quy định nhằm tạo sự đồng thuận cao trong thực thi chính sách pháp luật thuế.

Phòng TTHT CT Hà Nội

Hướng dẫn thực hiện thí điểm hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế


Tổng cục Thuế có văn bản 4915/TCT-DNL trả lời Chi nhánh Công ty cổ phần Bán lẻ kỹ thuật số FPT tại Hà Nội (gọi tắt là Chi nhánh FRT Hà Nội) về đề nghị hướng dẫn thực hiện thí điểm hóa đơn điện tử có mã xác thực của cơ quan thuế.

Các bài viết liên quan:

hoa-don-dien-tu_

Công ty cổ phần Bán lẻ Kỹ thuật số FPT đã triển khai thực hiện hóa đơn điện tử (HĐĐT) cho các công ty con tại các tỉnh, thành phố theo quy định tại Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011 của Bộ Tài chính và đã đăng ký với cơ quan thuế triển khai thí điểm HĐĐT có mã xác thực của cơ quan thuế cho Công ty cổ phần Bán lẻ Kỹ thuật số FPT trụ sở tại Tp.HCM (MST: 0311609355) và Chi nhánh FRT Hà Nội (MST: 0311609355-001). Từ ngày 1/10/2015, Chi nhánh FRT Hà Nội thực hiện thí điểm hóa đơn điện tử có mã xác thực theo mô hình phân tán, sử dụng phần mềm lập hóa đơn điện tử của Công ty và gửi đến thiết bị cấp mã xác thực hóa đơn đặt tại Công ty để thực hiện cấp mã xác thực.

Để xử lý tồn tại phát sinh khi triển khai thí điểm hóa đơn điện tử có mã xác thực của Chi nhánh FRT Hà Nội, Tổng cục Thuế hướng dẫn một số trường hợp cụ thể như sau:

Thực hiện xóa bỏ hóa đơn điện tử có mã xác thực nhưng gán nhầm MST của Chi nhánh khác

Theo báo cáo của Chi nhánh FRT Hà Nội do lỗi hệ thống hóa đơn điện tử của Công ty FPT HCM bị đẩy vào hệ thống xác thực và khi Công ty FPT HCM tiến hành xóa bỏ các hóa đơn này lại gán nhầm MST của chi nhánh FRT Hà Nội, cụ thể cho 03 hóa đơn (hóa đơn số 0070750, số xác thực: 100005000000125 kí hiệu: BL/15E, ngày 01/10/2015, tên khách hàng: Nguyễn Nguyên Tuấn và hóa đơn số 0070747, số xác thực 100005000000176, kí hiệu: BL/15E, ngày 01/10/2015, tên khách hàng: Anh Bảo và hóa đơn số 0070705, số xác thực 100005000000137, ký hiệu: BL/15E, ngày 01/10/2015, tên khách hàng: Anh Bảo). Đối với trường hợp này giao Cục thuế Tp. Hà Nội phối hợp với Cục thuế Tp. Hồ Chí Minh kiểm tra tình hình khai thuế nếu các hóa đơn này gắn với giao dịch kinh tế phát sinh đã được Công ty FPT HCM kê khai thuế đầy đủ và Chi nhánh FRT Hà Nội cam kết không kê khai thuế thì được chấp nhận.

Hóa đơn điện tử bị đẩy lên hệ thống cấp mã xác thực hai lần

Theo báo cáo của Chi nhánh FRT Hà Nội thì Công ty đã xuất hóa đơn điện tử số 0000019, ký hiệu: BL/15E, ngày 01/10/2015 cho Công ty cổ phần văn hóa tổng hợp An Thịnh. Tuy nhiên do lỗi tích hợp hệ thống hóa đơn bị đẩy xác thực 2 lần sinh ra 2 số xác thực khác nhau là 100004000000002, 100005000000002 và xác thực bằng MST của Công ty FRT Hồ Chí Minh. Hiện Chi nhánh FRT Hà Nội đã tiến hành xóa bỏ được 1 hóa đơn xác thực 100005000009360 ngày 14/10/2015. Chi nhánh FRT Hà Nội đã giao hóa đơn cho khách hàng dưới MST của Công ty FRT HCM và chi nhánh FRT Hà Nội đã kê khai hóa đơn này.

Tổng cục Thuế đề nghị Chi nhánh FRT Hà Nội phải lập biên bản điều chỉnh nội dung ghi sai và thực hiện lập hóa đơn điện tử có mã xác thực điều chỉnh theo đúng MST của chi nhánh FRT Hà Nội.

Hóa đơn điện tử khi gửi lên hệ thống cấp mã bị đẩy ngược ngày tháng

Theo báo cáo của Chi nhánh do lỗi kỹ thuật khi gửi hóa đơn đi cấp mã xác thực dữ liệu hóa đơn bị đẩy ngược ngày tháng từ ngày 05/11/2015 thành 11/05/2015. Số lượng hóa đơn bị lỗi trong trường hợp này rất lớn 1.202 hóa đơn, trong đó khách hàng doanh nghiệp 110 hóa đơn còn lại là hóa đơn xuất cho khách hàng cá nhân. Trường hợp này giao Cục Thuế Tp. Hà Nội kiểm tra tình hình kê khai thuế của Chi nhánh nếu các hóa đơn này gắn với nghiệp vụ kinh tế phát sinh và Chi nhánh FRT Hà Nội cam kết đã kê khai thuế theo đúng ngày ghi trên hóa đơn 05/11/2015 thì các hóa đơn này được chấp nhận.

Thực hiện điều chỉnh hóa đơn có mã xác thực

Hóa đơn xác thực của Chi nhánh FRT Hà Nội số 0004362, số xác thực 100004000002232, ký hiệu BL/15E, ngày 5/10/2015 xuất cho khách hàng là anh Cừ, khi Chi nhánh thực hiện điều chỉnh giảm hóa đơn này do lỗi kỹ thuật chọn vào xóa bỏ và đã gửi cấp mã xác thực thành công. Sau đó, Chi nhánh đã xuất hóa đơn điều chỉnh và gửi đi xác thực thành công (số hóa đơn điều chỉnh 0024632, BL/15E ngày 19/10/2015, số xác thực: 100004000011939).

Trường hợp này giao Cục thuế Tp.Hà Nội kiểm tra tình hình khai thuế của Chi nhánh nếu hóa đơn này gắn với nghiệp vụ kinh tế phát sinh và Chi nhánh FRT Hà Nội đã kê khai thuế đầy đủ của hóa đơn xác thực số 0004362, số xác thực 100004000002232, ký hiệu BL/15E, ngày 5/10/2015 và hóa đơn điều chỉnh số 0024632, số xác thực 100004000011939, ký hiệu BL/15E, ngày 19/10/2015 thì được chấp nhận.

Xuất hóa đơn có MST người mua ngừng hoạt động

Theo báo cáo của Chi nhánh FRT Hà Nội đã xuất 18 hóa đơn cho khách hàng là các doanh nghiệp có MST ngừng hoạt động nhưng chưa hoàn tất thủ tục đóng MST hoặc tạm nghỉ kinh doanh có thời hạn (Phụ lục 02 kèm theo công văn này).

Trường hợp này giao Cục thuế Tp. HN kiểm tra tình hình khai thuế của các hóa đơn này nếu các hóa đơn này gắn với giao dịch kinh tế phát sinh và Chi nhánh FRT Hà Nội đã thực hiện kê khai thuế đầy đủ thì các hóa đơn này được chấp nhận.

Bên cạnh đó, Tổng cục Thuế cũng hướng dẫn một số trường hợp khác như xuất hóa đơn cho khách hàng là cá nhân do lỗi hệ thống khi gửi xác thực cột số điện thoại bị đẩy vào cột MST; xuất hóa đơn cho khách hàng là doanh nghiệp nhầm mã số thuế; …

Cục Thuế Tp Hà Nội phối hợp với VNPT Vinaphone triển khai hóa đơn điện tử


Tổng cục Thuế vừa có văn bản trả lời đề xuất cho phép Cục Thuế Tp Hà Nội phối hợp với VNPT Vinaphone triển khai hóa đơn điện tử.

Theo đó, Tổng cục Thuế đề nghị Cục Thuế Tp Hà Nội tiếp tục phối hợp với VNPT Vinaphone đẩy mạnh triển khai hóa đơn điện tử theo quy định tại Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011 của Bộ Tài chính.

Các bài viết liên quan:

cuc-thue-ha-noi-1

Cục thuế Tp Hà Nội thống nhất, phối hợp với VNPT Vinaphone tuyên truyền vận động các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội tự nguyện thực hiện hóa đơn điện tử có xác thực và hóa đơn điện tử có kết chuyển dữ liệu với Cục Thuế Tp Hà Nội và đảm bảo một số nguyên tắc. Cụ thể: VNPT Vinaphone sẽ là tổ chức trung gian cung cấp dịch vụ hóa đơn điện tử nếu tham gia vào quy trình lập, phát hành hóa đơn điện tử và VNPT Vinaphone có sinh số, mã xác thực hoặc logo, biểu tượng… lên hóa đơn điện tử của doanh nghiệp thì nội dung này là sự đồng thuận giữa các doanh nghiệp với VNPT Vinaphone, không có giá trị pháp lý thay cho cơ quan thuế cấp số, mã xác thực trên hóa đơn điện tử.

Cục Thuế Tp Hà Nội không thực hiện cấp số, mã xác thực trên hóa đơn điện tử và không ủy quyền cho VNPT Vinaphone cấp số, mã xác thực trên hóa đơn điện tử.

Sau khi VNPT Vinaphone hỗ trợ doanh nghiệp phát hành hóa đơn điện tử thành công, VNPT Vinaphone thực hiện chuyển dữ liệu hóa đơn đến cơ quan thuế thì việc chuyển này phải được sự đồng thuận của doanh nghiệp và cơ quan thuế, VNPT Vinaphone phải chịu trách nhiệm về tính bảo mật và sử dụng thông tin dữ liệu của người nộp thuế đúng mục đích theo quy định của pháp luật.

Tổng cục Thuế sẽ tiếp tục hỗ trợ Cục Thuế Tp. Hà Nội và VNPT Vinaphone trong quá trình triển khai thực hiện.

Bảo mật thông tin doanh nghiệp khi mở rộng hóa đơn điện tử


Theo Nghị quyết 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử thì Tổng cục Thuế có nhiệm vụ hỗ trợ doanh nghiệp triển khai hóa đơn điện tử trên phạm vi toàn quốc.

Xung quanh việc triển khai này vẫn còn nhiều ý kiến lo ngại về cơ sở pháp lý, hạ tầng công nghệ thông tin, đặc biệt là vấn đề bảo mật thông tin cho doanh nghiệp.

Các bài viết liên quan:

bao-mat-thong-tin-hoa-don

Để làm rõ vấn đề này, phóng viên TTXVN đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Văn Thủy, Phó Vụ trưởng Vụ Quản lý Thuế doanh nghiệp lớn, Tổng cục Thuế.

– Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 có ghi rõ về vấn đề thực hiện hóa đơn điện tử trên phạm vi toàn quốc, cơ quan thuế có trách nhiệm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Vậy thời gian qua, ngành thuế đã triển khai như thế nào, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Thủy: Tổng cục Thuế nhận thức sâu sắc nội dung yêu cầu về triển khai hóa đơn điện tử, hóa đơn điện tử có xác thực của cơ quan thuế trên phạm vi toàn quốc theo Nghị quyết số 36a/NQ-CP tác động trực tiếp tới cộng đồng doanh nghiệp. Việc thực hiện nhiệm vụ này giúp giảm chi phí phát hành và sử dụng hóa đơn, thúc đẩy thương mại điện tử… Đây là nhiệm vụ trọng tâm của ngành thuế trước mắt cũng như lâu dài.

Từ nhận thức nêu trên, Tổng cục Thuế đã kịp thời tham mưu báo cáo Bộ Tài chính ban hành Quyết định thí điểm sử dụng hóa đơn điện tử có xác thực của cơ quan thuế phù hợp theo thẩm quyền đối với 200 doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đến hết tháng 12/2016 và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tổ chức thí điểm được thông suốt.

Đồng thời, Tổng cục Thuế xây dựng kế hoạch tổng thể và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nhằm thực hiện hóa đơn điện tử, hóa đơn điện tử có xác thực của cơ quan thuế.

– Vậy ngành thuế sẽ hoàn thiện, cải cách cơ sở pháp lý theo hướng nào để đáp ứng yêu cầu đề ra?

Ông Nguyễn Văn Thủy: Ngành thuế đã và đang tập trung nghiên cứu, tham mưu hoàn thiện cơ sở pháp lý để triển khai hiệu quả chỉ đạo của Bộ Tài chính, Chính phủ. Theo đó, Chính phủ sẽ ban hành Nghị định bổ sung quy định làm cơ sở pháp lý triển khai hóa đơn điện tử, hóa đơn điện tử có xác thực của cơ quan thuế. Bộ Tài chính sẽ ban hành các Thông tư hướng dẫn chi tiết thi hành.

Bộ Tài chính đang khẩn trương nghiên cứu, tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật Quản lý thuế.

Theo đó, sẽ quy định cụ thể nội dung hóa đơn điện tử, hóa đơn điện tử có xác thực của cơ quan thuế theo mục tiêu hướng tới là trong tương lai tất cả người nộp thuế bao gồm cả tổ chức và cá nhân kinh doanh (trừ cá nhân và hộ kinh doanh nhỏ) đều thực hiện hóa đơn điện tử và định kỳ thực hiện chuyển dữ liệu cho cơ quan thuế và hóa đơn điện tử có xác thực của cơ quan thuế.

Đồng thời, ngành thuế nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm của các nước đã áp dụng thành công hóa đơn điện tử để tìm ra giải pháp thực hiện phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Hiện cơ quan thuế nhận được phản hồi của phía Hàn Quốc về vấn đề phối hợp trong việc chia sẻ kinh nghiệm thực hiện hóa đơn điện tử và hóa đơn điện tử có xác thực của cơ quan thuế.

– Còn vấn đề hạ tầng công nghệ thông tin sẽ được ngành thuế xử lý ra sao, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Thủy: Tổng cục Thuế đang khẩn trương phối hợp với các cơ quan nghiên cứu xây dựng đề án tổng thể về ứng dụng công nghệ thông tin để tổ chức triển khai hóa đơn điện tử và hóa đơn điện tử có xác thực của cơ quan thuế. Đề án thực hiện trên nguyên tắc đảm bảo hệ thống vận hành thông suốt ngay cả khi cộng đồng doanh nghiệp tham gia trên diện rộng.

Tuy nhiên, để việc triển khai Nghị định 36a/NĐ-CP của Chính phủ có hiệu quả, cần xã hội hoá sự tham gia của các tổ chức cung cấp dịch vụ thuế điện tử (T-VAN) thực hiện hóa đơn điện tử, hóa đơn điện tử có xác thực của cơ quan thuế.

– Theo ông, sự tham gia của nhà cung cấp dịch vụ T-VAN có khiến doanh nghiệp lo ngại về vấn đề bảo mật thông tin?

Ông Nguyễn Văn Thủy: Những doanh nghiệp tham gia có sự kiểm soát của nhà nước về điều kiện để trở thành T-VAN và cung cấp dịch vụ có chất lượng với chi phí phù hợp phục vụ cộng đồng doanh nghiệp. Bên cạnh đó, sẽ có những quy định, trách nhiệm cụ thể đối với doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ trong việc bảo mật thông tin.

Ngành thuế từng bước xây dựng kho cơ sở dữ liệu về hóa đơn của doanh nghiệp phục vụ công tác quản lý của nhà nước nói chung và quản lý thuế nói riêng, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc chia sẻ, truy xuất thông tin trên nguyên tắc bảo mật, chia sẻ thông tin phù hợp.

– Qua quá trình thực hiện, xin ông cho biết còn vướng mắc nào cần tháo gỡ?

Ông Nguyễn Văn Thủy: Để triển khai thành công mở rộng sử dụng hóa đơn điện tử và hóa đơn điện tử có xác thực của cơ quan thuế trên toàn quốc, đáp ứng đòi hỏi của Chính phủ điện tử, chúng tôi đề nghị cần bổ sung, hoàn thiện cơ sở pháp lý nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử, hóa đơn điện tử có xác thực.

Cụ thể, bổ sung quy định tại các văn bản cấp Nghị định để nâng cao tính pháp lý và khả năng áp dụng của hóa đơn điện tử, hóa đơn điện tử có xác thực của cơ quan thuế.

Bên cạnh đó, Thông tư số 32/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính cần sửa đổi để phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và thực tế triển khai hóa đơn điện tử của các doanh nghiệp. Đồng thời, nghiên cứu bổ sung quy định doanh nghiệp chuyển dữ liệu hóa đơn điện tử về cơ quan thuế để có dữ liệu tập trung, thống nhất về hóa đơn phục vụ công tác quản lý.

Đối với người nộp thuế là tổ chức kinh doanh không thuộc đối tượng thực hiện hóa đơn điện tử có chuyển dữ liệu hóa đơn cho cơ quan thuế và người nộp thuế là cá nhân kinh doanh có quy mô lớn thì phải sử dụng hóa đơn điện tử có xác thực của cơ quan thuế qua tổ chức cung cấp dịch vụ T-VAN.

Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, các điều kiện quản lý, bảo mật an toàn hệ thống thuộc trách nhiệm của các cơ quan liên quan phải đồng bộ, thông suốt, đảm bảo yêu cầu triển khai hóa đơn điện tử và tạo thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp.

– Xin trân trọng cám ơn ông!

Hải Yến

Giải đáp vướng mắc về thực hiện hóa đơn điện tử


Tổng cục Thuế nhận được Công văn số 633/CV-VBI5 ngày 24/5/2016 của Công ty TNHH MTV Bảo hiểm Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam về việc sử dụng hóa đơn điện tử của Công ty và các chi nhánh trực thuộc. Về vấn đề này, ngày 15/6/2016 Tổng cục Thuế có Công văn 2632/TCT-DNL giải đáp như sau:

Các bài viết liên quan:

giai-dap-hoa-don-dien-tu

Tại khoản 2 Điều 1 Nghị định số 04/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014 của Chính phủ sửa đổi Khoản 5 Điều 5 Nghị định số 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ quy định:

“5. Tổ chức kinh doanh có thể đồng thời cùng lúc sử dụng nhiều hình thức hóa đơn khác nhau. Nhà nước khuyến khích hình thức hóa đơn điện tử”.

Tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn về khởi tạo, phát hành và sử dụng hóa đơn điện tử bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ:

“Điều 4. Nguyên tắc sử dụng, điều kiện của tổ chức khởi tạo hóa đơn điện tử…

2. Điều kiện của tổ chức khởi tạo hóa đơn

Người bán hàng hóa, dịch vụ (sau gọi chung là người bán) khởi tạo hóa đơn điện tử phải đáp ứng điều kiện sau:

a) Là tổ chức kinh tế có đủ điều kiện và đang thực hiện giao dịch điện tử trong khai thuế với cơ quan thuế; hoặc là tổ chức kinh tế có sử dụng giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng.

b) Có địa điểm, các đường truyền tải thông tin, mạng thông tin, thiết bị truyền tin đáp ứng yêu cầu khai thác, kiểm soát, xử lý, sử dụng, bảo quản và lưu trữ hóa đơn điện tử;

c) Có đội ngũ người thực thi đủ trình độ, khả năng tương xứng với yêu cầu để thực hiện việc khởi tạo, lập, sử dụng hóa đơn điện tử theo quy định;

d) Có chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật.

đ) Có phần mềm bán hàng hóa, dịch vụ kết nối với phần mềm kế toán, đảm bảo dữ liệu của hóa đơn điện tử bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tự động chuyển vào phần mềm (hoặc cơ sở dữ liệu) kế toán tại thời điểm lập hóa đơn.

e) Có các quy trình sao lưu dữ liệu, khôi phục dữ liệu, lưu trữ dữ liệu đáp ứng các yêu cầu tối thiểu về chất lượng lưu trữ bao gồm:

– Hệ thống lưu trữ dữ liệu phải đáp ứng hoặc được chứng minh là có tương thích với các chuẩn mực về hệ thống lưu trữ dữ liệu;

– Có quy trình sao lưu và phục hồi dữ liệu khi hệ thống gặp sự cố: đảm bảo sao lưu dữ liệu của hóa đơn điện tử ra các vật mang tin hoặc sao lưu trực tuyến toàn bộ dữ liệu.”

Căn cứ các quy định nêu trên, trường hợp Công ty TNHH MTV Bảo hiểm Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam và các chi nhánh trực thuộc Công ty đáp ứng các điều kiện khởi tạo hóa đơn điện tử thì được khởi tạo hóa đơn điện tử để sử dụng. Đề nghị Công ty thực hiện Thông báo phát hành hóa đơn điện tử theo quy định tại Thông tư số 32/2011/TT-BTC ngày 14/3/2011./.

Một số hướng dẫn cần lưu ý về sử dụng hóa đơn điện tử


Trước kiến nghị của một số doanh nghiệp về việc thực hiện tiêu thức chữ ký điện tử của người mua hóa đơn trên hóa đơn điện tử, mới đây, Bộ Tài chính đã có Công văn 2402/BTC-TCT gửi các cục thuế tỉnh, thành phố hướng dẫn rõ về vấn đề này.

Các bài viết liên quan:

hoa-don-dien-tu-chukysofpt

Với phương châm khuyến khích sử dụng hóa đơn điện tử, Chính phủ đã quy định: “tổ chức kinh doanh có thể đồng thời cùng lúc sử dụng nhiều hình thức hóa đơn khác nhau. Nhà nước khuyến khích hình thức hóa đơn điện tử”.

Thực hiện chủ trương của Chính phủ, Bộ Tài chính hướng dẫn, chữ ký ký điện tử phải có các nội dung “chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật của người bán; ngày, tháng, năm lập và gửi hóa đơn”. Chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật của người mua trong trường hợp người mua là đơn vị kế toán.

Một số trường hợp hóa đơn điện tử không có đầy đủ các nội dung bắt buộc được thực hiện theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính.

Do vậy, căn cứ và quy định của pháp luật, Bộ Tài chính hướng dẫn đối với những trường hợp hóa đơn điện tử không nhất thiết phải có chữ ký điện tử của người mua gồm:

Người mua không phải là đơn vị kế toán nếu có các hồ sơ, chứng từ chứng minh việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ giữa người bán với người mua như: Hợp đồng kinh tế; Phiếu xuất kho; Biên bản giao nhận hàng hóa; Biên nhận thanh toán; Phiếu thu…

Nhằm tạo sự thông thoáng hơn nữa, Bộ Tài chính cũng giao các cục thuế xem xét từng trường hợp phát sinh cụ thể và điều kiện đáp ứng của doanh nghiệp để hướng dẫn miễn tiêu thức chữ ký điện tử của người mua trên hóa đơn điện tử./.